Qua một loạt thư từ kéo dài, Paul Moor đã cố gắng tìm hiểu Jürgen Bartsch như một con người; ông cũng trò chuyện với nhiều người biết đôi chút về Bartsch và sẵn lòng nói về cậu ta. Những cuộc điều tra của Moor về năm đầu đời của cậu bé đã làm sáng tỏ một số điều sau đây:
Ngay từ ngày chào đời - 6 tháng 11 năm 1946 - Jürgen Bartsch đã ở trong một môi trường bất lợi cho sức khỏe. Ngay sau khi sinh, cậu bị tách khỏi người mẹ mắc bệnh lao, bà qua đời chỉ vài tuần sau đó. Không có bất kỳ “người mẹ thay thế” nào cho cậu. Ở Essen, tôi tìm được một y tá tên Anni, vẫn làm việc tại cùng khoa hộ sinh ấy, và bà nhớ rất rõ về Jürgen: “Việc giữ trẻ trong bệnh viện lâu hơn hai tháng là điều rất hiếm. Nhưng Jürgen đã ở với chúng tôi suốt mười một tháng.”
Tâm lý học hiện đại cho rằng năm đầu tiên trong cuộc đời một con người là giai đoạn quan trọng nhất. Sự ấm áp của người mẹ và tiếp xúc cơ thể có giá trị không thể thay thế đối với sự phát triển sau này của trẻ.
Khi cậu bé vẫn còn trong phòng sơ sinh của bệnh viện, những quan điểm kinh tế và xã hội của cha mẹ nuôi tương lai đã bắt đầu ảnh hưởng đến cuộc sống của cậu. Y tá Anni kể lại: “Bà Bartsch đã trả thêm tiền để cậu bé được ở lại với chúng tôi. Bà và chồng muốn nhận nuôi cậu, nhưng chính quyền còn do dự vì e ngại về xuất thân của đứa trẻ. Mẹ cậu cũng là con ngoài giá thú giống như cậu và đã từng có thời gian được nhà nước nuôi dưỡng.
Không ai biết chắc cha cậu là ai. Thông thường, sau một thời gian nhất định, chúng tôi sẽ chuyển những trẻ không có cha mẹ sang một khu khác, nhưng bà Bartsch không muốn như vậy. Ở khu đó có đủ loại trẻ, kể cả con cái của những gia đình thuộc tầng lớp thấp.
Đến giờ tôi vẫn nhớ đôi mắt sáng long lanh của cậu bé. Cậu biết cười từ rất sớm, dõi mắt theo vật thể, ngẩng đầu lên - tất cả đều ở độ tuổi rất, rất sớm. Có lần, cậu phát hiện ra rằng y tá sẽ đến nếu cậu ấn nút, và điều đó khiến cậu thích thú vô cùng. Lúc ấy, cậu không gặp bất kỳ vấn đề gì về ăn uống. Cậu là một đứa trẻ hoàn toàn bình thường, phát triển tốt và hòa đồng với những người xung quanh.”
Tuy nhiên, đã có một số biểu hiện phát triển bất thường ngay từ sớm. Các y tá trong khoa phải nghĩ ra những cách đặc biệt để chăm sóc cậu, vì việc có một đứa trẻ lớn như vậy ở đó là rất hiếm. Tôi ngạc nhiên khi biết rằng các y tá đã tập cho cậu đi vệ sinh trước khi cậu tròn mười một tháng tuổi. Anni rõ ràng thấy lạ lẫm trước sự ngạc nhiên của tôi: “Xin đừng quên bối cảnh lúc đó - chỉ một năm sau khi thua trận. Chúng tôi thậm chí còn không có ca kíp.”
Với chút mất kiên nhẫn, bà trả lời các câu hỏi của tôi về cách bà và các y tá khác làm được điều đó: “Chúng tôi đơn giản chỉ đặt cậu bé vào bô, bắt đầu từ sáu hoặc bảy tháng tuổi. Ở bệnh viện khi ấy cũng có những trẻ đã biết đi lúc mười một tháng và gần như cũng đã được tập đi vệ sinh.”
Trong hoàn cảnh ấy, một y tá người Đức thuộc thế hệ của bà, dù là người tốt bụng, cũng khó có thể áp dụng những phương pháp nuôi dạy trẻ “tiến bộ” hơn.
|
| Jürgen Bartsch khi bị bắt giữ. Ảnh: WDR. |
Sau mười một tháng dài sống trong môi trường bất lợi này, đứa trẻ - lúc này đã được gọi là Jürgen - được cha mẹ nuôi đón về. Ai quen biết bà Bartsch đều nói rằng bà là một “kẻ cuồng sạch sẽ”. Ngay sau khi rời bệnh viện, cậu bé dần quên mất làm sao để đi vệ sinh cho đúng bởi các y tá đã rèn luyện việc này cho cậu sớm quá mức so với độ tuổi thực tế của cậu. Điều đó khiến bà Bartsch ghê tởm.
Những người quen của gia đình Bartsch nhận thấy vào khoảng thời gian đó, đứa bé lúc nào cũng bầm tím khắp người. Mỗi lần, bà Bartsch lại đưa ra một lời giải thích khác nhau cho những vết bầm ấy, nhưng chưa lần nào đủ sức thuyết phục.
Ít nhất một lần trong giai đoạn này, người cha chán nản, Gerhard Bartsch, đã thú nhận với một người bạn rằng ông đang cân nhắc ly hôn: “Bà ấy đánh đứa bé thậm tệ, tôi thật sự không thể chịu nổi nữa.” Một lần khác, khi vội vã xin phép ra về, ông Bartsch đã phân trần: “Tôi phải về nhà, nếu không bà ấy sẽ đánh chết thằng bé mất.”
Tất nhiên, Jürgen không thể kể lại gì về giai đoạn này, nhưng ta có thể đoán rằng những cơn lo âu thường xuyên mà cậu từng nhắc đến là hệ quả của những trận đòn ấy. “Khi tôi còn rất nhỏ, tôi luôn vô cùng sợ hãi dáng đi nặng nề của cha. Và tôi hầu như chưa bao giờ thấy ông cười - điều này tôi đã nhận ra ngay từ khi ấy.”
“Tại sao tôi lại viết về nỗi sợ này? Thực ra, nó không hẳn là một lời thú tội, mà là nói về những đứa trẻ khác. Bạn không biết rằng tôi là kẻ bị đem ra làm vật hứng chịu trong những năm đầu đi học, hay những gì chúng đã làm với tôi đâu. Tự vệ ư? Cứ thử xem nếu bạn là đứa nhỏ nhất lớp! Tôi thậm chí còn sợ phải hát ở trường hay tham gia tập thể dục! Có vài lý do: Những bạn học không gặp gỡ ngoài giờ học thì sẽ bị coi là không hòa nhập, theo quan niệm rằng: ‘Nó chẳng muốn chơi với bọn mình!’
Trẻ con không phân biệt được là nó ‘không muốn’ hay ‘không thể’. Tôi thì không thể. Vài buổi chiều với thầy Hünnemeier, vài ngày ở Werden tại nhà bà - nơi tôi phải ngủ trên sàn nhà - còn lại thì ở Katernberg, trong cửa hàng. Kết quả là tôi chẳng cảm thấy ở đâu là nhà cả, không cảm thấy mình thân thuộc ở bất cứ nơi đâu, không người thân thiết, không bạn bè, vì tôi chẳng quen ai.
Đó là những lý do chính, nhưng còn một điều rất quan trọng: Cho tới khi bắt đầu đi học, tôi bị nhốt gần như hầu hết thời gian trong hầm giam cũ [hầm chứa của bà tôi], có cửa sổ song sắt và ánh sáng nhân tạo, tường cao ba mét. Chỉ có tất cả những thứ đó thôi. Tôi chỉ được ra ngoài khi bà dắt tay; không được phép chơi với đứa trẻ nào khác. Nó diễn ra trong suốt sáu năm. Bà sợ tôi bị lấm bẩn, và nói rằng ‘với lại mấy đứa đó đâu có hợp với con!’ Thế là tôi đành chấp nhận, nhưng ở đó tôi chỉ là kẻ vướng víu, bị đẩy từ góc này sang góc khác, bị đánh khi không đáng và thoát đòn khi đáng bị đánh.
Cha mẹ tôi thì chẳng có thời gian. Tôi sợ cha vì ông hét lên ngay lập tức, còn mẹ thì đã hay lên cơn cuồng loạn ngay từ khi ấy. Nhưng trên hết, tôi tuyệt đối không được tiếp xúc với những đứa trẻ cùng trang lứa, vì - như tôi đã nói - điều đó bị cấm! Vậy làm sao mà hòa nhập được đây? Làm sao để bỏ được tính nhút nhát, thứ đôi khi biến mất khi tôi chơi đùa? Sau sáu năm thì đã quá muộn rồi!”
Việc bị nhốt là một yếu tố quan trọng. Về sau, Bartsch sẽ dụ các bé trai vào một hầm trú ẩn dưới đất và sát hại chúng ở đó. Khi còn nhỏ, vì không có ai thấu hiểu nỗi bất hạnh của mình, cậu không thể chia sẻ mà đành kìm nén, “không để ai thấy nỗi khổ của mình”.