Trong cuốn The Singularity Is Near, tôi từng mô tả nền tảng của ý thức chính là thông tin. Tôi đã đưa ra sáu kỷ nguyên - hay sáu giai đoạn - kể từ khi vũ trụ ra đời; trong đó, mỗi giai đoạn đều được hình thành từ quá trình xử lý thông tin của giai đoạn trước. Với đó, trí tuệ tiến hóa thông qua chuỗi gián tiếp của các quá trình khác xảy ra trước đó.
Kỷ nguyên thứ nhất được đánh dấu bằng sự ra đời của các định luật vật lý cùng các hoạt động hóa học mà chúng tạo ra. Vài trăm nghìn năm sau Vụ Nổ Lớn (Big Bang), nguyên tử hình thành, gồm các electron quay quanh một lõi chứa các proton và neutron.
Lẽ ra các proton trong cùng một hạt nhân không thể ở gần nhau như thế, vì lực điện từ sẽ đẩy chúng ra xa nhau. Tuy nhiên, vũ trụ còn có một lực riêng biệt gọi là lực hạt nhân mạnh giúp giữ chặt các proton lại với nhau. Ai đó đã lập trình thêm lực này trong bộ quy tắc của vũ trụ, nếu không, tiến hoá qua nguyên tử đã là điều bất khả.
Hàng tỷ năm sau, các nguyên tử kết hợp thành phân tử mang khả năng lưu trữ thông tin phức tạp. Carbon trở thành khối cơ bản lý tưởng nhất vì có thể tạo ra bốn liên kết - nhiều hơn hầu hết nguyên tử khác, vốn chỉ tạo được một, hai hoặc ba liên kết.
Việc chúng ta sống trong một thế giới cho phép xảy ra các hoạt động hoá học phức tạp như vậy là vô cùng hiếm. Chỉ cần lực hấp dẫn yếu đi một chút, sẽ không có siêu tân tinh để tạo ra các nguyên tố cần thiết cho sự sống.
Nếu nó mạnh hơn một chút, các ngôi sao sẽ lụi tàn trước khi sự sống thông minh kịp hình thành. Chỉ riêng hằng số vật lý này thôi cũng phải nằm trong một khoảng cực kỳ hẹp, nếu không chúng ta đã không tồn tại. Chúng ta đang sống trong một vũ trụ được cân bằng chuẩn xác, tạo ra một trật tự cho phép tiến hoá diễn ra.
|
| Loài người đã đi qua hàng tỷ năm để đến ngày hôm nay. Ảnh: SciTechDaily. |
Vài tỷ năm trước, Kỷ nguyên thứ hai bắt đầu: sự sống. Các phân tử trở nên đủ phức tạp để quy định toàn bộ một sinh vật chỉ bằng một phân tử duy nhất. Từ đó, các sinh thể mang DNA riêng đã có thể tiến hoá và lan rộng.
Trong Kỷ nguyên thứ ba, ở các loài động vật được mã hoá bằng DNA đã hình thành não bộ với khả năng lưu trữ và xử lý thông tin. Não mang lại lợi thế tiến hoá, và nhờ đó cũng ngày càng trở nên phức tạp hơn qua hàng triệu năm.
Ở Kỷ nguyên thứ tư, một loài động vật đã sử dụng tư duy bậc cao kết hợp với đôi tay linh hoạt để biến suy nghĩ thành hành động phức tạp. Đó chính là con người. Loài người đã dùng những năng lực ấy để tạo ra công nghệ - từ giấy cói đến ổ cứng - giúp lưu trữ và xử lý thông tin. Những công nghệ này tăng cường khả năng của não bộ trong việc nhận biết, ghi nhớ và phân tích các mẫu thông tin.
Đây là một nguồn lực tiến hoá hoàn toàn mới, vượt xa mọi tiến bộ trước đó. Với bộ não, phải mất khoảng 100.000 năm để “thêm” được một inch khối chất xám, nhưng với máy tính số, hiệu suất theo giá cả đang tăng gấp đôi sau mỗi 16 tháng.
Kỷ nguyên thứ năm sẽ là lúc chúng ta hợp nhất trực tiếp nhận thức sinh học với tốc độ và sức mạnh của công nghệ số. Đó là giao diện não-máy tính. Trong khi việc xử lý thần kinh của con người diễn ra ở tốc độ vài trăm chu kỳ mỗi giây, máy tính kỹ thuật số hoạt động ở mức hàng tỉ chu kỳ. Không chỉ nhanh hơn và nhiều bộ nhớ hơn, máy tính phi sinh học còn có thể “mở rộng” tân vỏ não của chúng ta bằng những lớp nhận thức mới - giúp khai mở các cấp độ tư duy trừu tượng vượt xa khả năng hiện tại.
Kỷ nguyên thứ sáu là khi trí tuệ của chúng ta lan toả khắp vũ trụ, chuyển hoá vật chất thông thường thành computronium (vật chất tính toán): dạng vật chất được tổ chức ở mật độ tính toán cực đại.
Trong cuốn The Age of Spiritual Machines (1999), tôi dự đoán rằng đến năm 2029, một AI sẽ vượt qua phép thử Turing - tức có thể trò chuyện bằng văn bản không phân biệt được với con người. Tôi đã nhắc lại dự báo này trong cuốn The Singularity Is Nearer (2005).
Để thực sự sự vượt qua phép thử Turing, AI cần làm chủ ngôn ngữ và khả năng suy luận theo lẽ thường giống như con người. Turing đưa ra khái niệm này từ năm 1950, nhưng ông không chỉ rõ cách thực hiện cụ thể cho phép thử của mình. Trong vụ cược với Mitch Kapor, chúng tôi đã tự đặt ra bộ quy tắc riêng khó hơn nhiều so với các cách hiểu khác.
Tôi kỳ vọng rằng, để có thể vượt qua phép thử Turing vào năm 2029, AI cần đạt được hàng loạt các thành tựu trí tuệ đa dạng từ trước năm 2020. Và quả thực, kể từ dự báo đó, AI đã chinh phục nhiều thử thách trí tuệ khó khăn nhất của nhân loại, từ các trò chơi như Jeopardy! Hay cờ vây đến các ứng dụng nghiêm túc trong chẩn đoán hình ảnh và nghiên cứu thuốc. Khi tôi viết những dòng này, những hệ thống AI hàng đầu như Gemini và GPT-4 đang không ngừng mở rộng năng lực sang nhiều lĩnh vực - những bước đi đầy hào hứng tiến gần đến trí tuệ tổng quát.
Cuối cùng, khi một chương trình vượt qua phép thử Turing, nó sẽ phải giả vờ ở nhiều mặt vì nếu không, người đối thoại sẽ nhận ra ngay đó là AI. Ví dụ, nếu AI có thể giải đúng bất kỳ bài toán nào ngay lập tức, nó sẽ không qua được phép thử. Thế nên, ở cấp độ phép thử Turing, năng lực của AI thực chất đã vượt xa con người ở hầu hết mọi lĩnh vực.
Con người hiện đang ở Kỷ nguyên thứ tư, và công nghệ do chúng tạo ra bắt đầu mang lại những kết quả vượt quá khả năng hiểu biết của chính chúng ta trong một số nhiệm vụ. Với những khía cạnh của phép thử Turing mà AI chưa làm được, tiến bộ đang diễn ra rất nhanh - và ngày càng tăng tốc. Khi AI vượt qua phép thử này- điều tôi kỳ vọng sẽ xảy ra vào năm 2029 - chúng ta sẽ bước vào Kỷ nguyên thứ năm.
Năng lực then chốt trong thập niên 2030 sẽ là kết nối các lớp cao nhất của tân vỏ não với hệ thống đám mây và trực tiếp mở rộng khả năng tư duy. Khi ấy, AI sẽ không còn là đối thủ mà trở thành phần mở rộng của chính chúng ta. Đến thời điểm đó, phần hy sinh trong trí tuệ của chúng ta sẽ mang lại năng lực nhận thức gấp hàng nghìn lần phần sinh học.