Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Kinh doanh nghệ thuật: nói chuyện cũ, ngẫm chuyện nay

Kinh doanh nghệ thuật: nói chuyện cũ, ngẫm chuyện nay

NHẮC CHUYỆN XƯA…

Kinh doanh nghệ thuật: nói chuyện cũ, ngẫm chuyện nay

Còn nhớ những năm giữa thập niên 60, Bà Bầu Thơ nhận thấy sự yếu thế của đoàn hát Thanh Minh trước sự ra mắt hùng hậu của đoàn Thủ Ðô ( bầu Ba Bản) với sức mạnh về tài chính, và nhân lực, mà nhất là đệ nhất danh ca Út Trà Ôn cùng kép độc ưu hạng Hoàng Giang cộng tác , để đối phó với thực lực hùng hậu của đoàn Thủ Ðô bà đã ký hợp đồng dài hạn với rạp Nguyễn Văn Hảo, với mục đích không cho gánh Thủ Ðô có rạp lớn khai trương. Bầu Ba Bản đi tìm rạp khai trương thì mới biết rạp hát lớn Nguyễn Văn Hảo đã bị bà Bầu Thơ chế ngự, có nghĩa là bà có quyền ngăn chận bất cứ đoàn cải lương nào muốn về đây. Cú cạnh tranh này bà Bầu Thơ đã thắng…

Rạp hát Nguyễn Văn Hảo với 800 chỗ ngồi, được giới nghệ sĩ gọi là “hàng không mẫu hạm Nguyễn Văn Hảo,” coi như là rạp lớn nhất ở Ðô Thành, mà xưa giờ các gánh hát đều nhắm vào để chọn ngày khai trương. Rạp lại nằm ở địa điểm thuận lợi, phía trước rạp là đường Trần Hưng Ðạo, mặt sau hậu trường là đường Bùi Viện, mà ngay đó lại có ngã tư, do con đường Ðề Thám chạy ngang, cũng được giới cải lương đặt tên là “Ngã Tư Quốc Tế.” Tóm lại thời bấy giờ ở Ðô Thành không có rạp cải lương nào thuận lợi và lớn bằng rạp Nguyễn Văn Hảo.

Bầu Ba Bản không phải tay vừa, ông chưa từng lùi bước trước tình huống nào, thử thách nào… ông Ba Bản (con của đại điền chủ ở Bến Tre) tiền dư bạc để, sau khi trúng thầu mở con đường từ Thủ Dầu Một đi Ban Mê Thuột, ông thành lập hãng dĩa hát Hoành Sơn, phát hành bán toàn khắp Ðông Dương và luôn cả ở bên Pháp. Những người thân của ông kể rằng lúc bấy giờ tiền lợi nhuận hãng dĩa hát cứ hai ngày thì mua được một chiếc Simca, tóm lại đồng tiền của ông đủ sức xoay chuyển tình thế, Trước sự thể không ngờ được như trên, ông Ba Bản sang thuê rạp hát bóng Thanh Bình nằm cách đó mấy trăm thước, và cho chỉnh trang lại thành rạp cải lương, cho đặt thêm hai chiếc máy lạnh tối tân (thời điểm này tất cả rạp cải lương, kể cả rạp Nguyễn Văn Hảo đều chưa có máy lạnh), và cũng thuê dài hạn cả năm.

Rạp Thanh Bình với diện tích 1,800 thước vuông, chỗ ngồi gấp đôi rạp Nguyễn Văn Hảo, mà trước tiền đình lại rộng hơn gấp ba lần, và với sự cải tiến nghệ thuật, cùng sức mạnh trong quảng cáo, đoàn Thủ Ðô đã thu hút gần hết con số khán giả cải lương hằng đêm, làm cho đoàn Thanh Minh đang hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo bị trống trơn ghế ngồi, các rạp ở gần khu vực như Thành Xương cũng cùng tình trạng. Trước tình thế đó bà Bầu Thơ đành cho đoàn Thanh Minh dời đi xa để sống còn…Trong thời gian một, hai tháng đầu hát khai trương tại rạp Thanh Bình, đoàn Thủ Ðô luôn chật rạp, mỗi suất hát gần 2,000 vé bán ra, và phía trước sân rộng gấp 3 lần rạp Nguyễn Văn Hảo, ông Ba Bản đã cho đặt mấy cái loa bên ngoài để khán giả không mua được vé đứng nghe đỡ ghiền (việc làm này cũng ảnh hưởng không ít đến con số khán giả của các rạp khác). Trong lúc đoàn Thủ Ðô đông nghẹt khán giả, chỗ đứng chỗ ngồi đều không còn thì các đoàn khác khán giả thưa thớt…Bà Bầu Thơ lại phải chọn cách lưu diễn một thời gian…Chiêu cạnh tranh này rất tốn kém.

Trong lĩnh vực điện ảnh cũng vậy! Cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, Điện ảnh Việt Nam trong thời kỳ phôi thai cũng đã có sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ hãng phim. Nếu như Mỹ Vân phim tung chiêu với “Người đẹp Bình Dương” Thẩm Thúy Hằng thì các hãng Tân Việt, Việt Thanh…lại sử dụng chiêu bài “Kỳ nữ Kim Cương”, “Hoa Hậu Đông Phương” Túy Phượng…Bên đây có “Chuyện Tam Nương” thì bên kia có “Thạch Sanh Lý Thông”…Việc các rạp tung chiêu để giành quyền chiếu phim trong “ngày vàng” cũng đã có từ lâu, từng sôi nổi khi tư nhân làm phim, chứ không phải đợi Phước Sang hay Thiên Ngân ra đời mới có…

Có một bài học đoàn kết của điện ảnh thương mại: Cuối năm 1958- 1961 là giai đoạn bi kịch của điện ảnh thương mại miền nam. Phim làm ra thua lỗ, mọi sản xuất bị đình trệ, không ai dám làm phim. Đỉnh cao của sự tê liệt là vào cuối năm 1960. Mọi sản xuất bị ngưng hẳn, thiếu vốn…Báo chí chuyên về thời kỳ này không còn mặn mà ủng hộ phim Việt, vì cạnh tranh hoặc để bán báo, các tạp chí như Kịch ảnh, Màn ảnh sân khấu ( không phải Màn ảnh Sân khấu bây giờ, cho dù Màn ảnh Sân khấu hiện tại được ra đời năm 1958) , Điện ảnh… đua nhau đăng bìa là hình các ngôi sao Mỹ, Nhật, Hoa hoặc Anh, Pháp, Ý. Để cạnh tranh với làn sóng phim Ấn độ, phim Nhật và phim ca nhạc Hoa. Các nhà làm phim thời kỳ này như Thái Thúc Nha đã điện ảnh hóa cải lương bằng những bộ phim như “Oan ơi ông Địa”(Thẩm Thúy Hằng đóng chính), “Bẽ Bàng”(Kim Cương đóng)… Năm 1962- 1963, nền điện ảnh miền nam có dấu hiệu “hồi sinh” trở lại với nhiều hãng phim mới và những dự án làm phim. Các nhà sản xuất đoàn kết, kiến nghị chính quyền thời đó cho miễn thuế nhập cảng phim, tiếp thu phương tiện kỹ thuật mới…Các phim thời kỳ này bắt đầu áp dụng kỹ thuật phim mầu đơn. Tiên phong trình chiếu trong dịp Xuân như Mưa Rừng của hãng An Pha ( do Kim Cương, Kiều Chinh đóng chính), khởi quay cũng phim mầu, phim Đôi Mắt Người Xưa (do Thanh Nga đóng chính). Cũng thời gian này, kịch sĩ Năm Châu và đạo diễn Lê Mộng Hoàng khởi quay “Tơ Tình’ do hãng Mỹ Vân sản xuất (Thẩm Thúy Hằng, Mai Ly và nữ ca sĩ Thanh Thúy diễn xuất chính). Thành công mạnh về doanh thu của “Tơ Tình”, hãng Mỹ Vân bắt tay vào sản xuất tiếp phim Bóng Người Đi (Đoạn Tuyệt). Phim “Bóng Người Đi” do Thẩm Thúy Hằng đóng cặp với Thành Được, Út Bạch Lan. Rồi “Hai chuyến xe hoa” trình chiếu đầu năm 1963. “Loạn”, “Yêu”(1964), “ Dang Dở”(1965), “Từ Sài gòn đến Điện biên phủ” (phim hợp tác Đài Loan và Việt Nam, năm 1966), “Giã từ bóng tối”(1969), Trai thời loạn( 1969), Loan mắt nhung (1969)… Sự đoàn kết và củng cố này, đã giúp điện ảnh thương mại miền nam đứng được trong suốt thập niên 60-70. Các hãng phim đã biết thành lập theo hướng nhìn xa trông rộng, đội ngũ chuyên viên học nước ngoài và trong nước phát triển. Sự hợp tác và tìm đối tác với các nước trong khu vực được các hãng quan tâm…Phong trào sản xuất phim từ từ vượt qua những giai đoạn khủng hoảng (1959-1966) để phát triển mạnh mẽ trở lại.

Từ năm 1970 trở đi, Điện ảnh miền nam Việt Nam liên tục cử nhiều phái đoàn đi dự các liên hoan phim quốc tế tại Tây Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan…Phim giải trí thật sự là trăm hoa đua nở với sự thành công về mặt tài chính của Chiều Kỷ Niệm, Chân Trời Tím, Loan Mắt Nhung, Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya …Từ cuối năm 1969, các nhà làm phim tại Sài Gòn đã sản xuất phim màu. Hai bộ phim màu được đầu tư mạnh ở phần thực hiện là “Chân Trời Tím” của Liêm ảnh công ty và “Người Tình Không Chân Dung” của Giao Chỉ Phim. Hai bộ phim này là phim màu đại vĩ tuyến, đều in rửa ở nước ngoài. Nước mà các nhà sản xuất phim Sài Gòn thường chọn mặt gửi vàng thời bấy giờ là Nhật Bản. Năm 1972 là năm chính thức được xem sản xuất bằng phim màu là “mốt” du nhập vào Việt Nam. Có thể nói đây là năm hưng thịnh và phát triển nhất của lịch sử điện ảnh thương mại miền nam vùng Mỹ Ngụy tạm chiếm. Liên tiếp các năm 1971, 1972, 1973, 1974 ở các kỳ liên hoan phim trong khu vực, Việt Nam đều gặt hái được những giải thưởng

Và cũng chính giai đoạn này đã hình thành nên một thế hệ ngôi sao thương mại thật sự mà tên tuổi họ lôi kéo mọi người vào phòng vé như: Thẩm Thúy Hằng, Thanh Nga, Kiều Chinh…

NÓI CHUYỆN NAY…

Kinh doanh nghệ thuật: nói chuyện cũ, ngẫm chuyện nay

Bài học cạnh tranh trên sân khấu đã trình bày rõ. Trở lại phim ảnh, chuyện cạnh tranh giành rạp chiếu, cạnh tranh ngày giờ chiếu trước, hay cạnh tranh về một đề tài mà nhiều nhà sản xuất tâm đắc (như trường hợp Võ Lâm Truyền Kỳ) nếu như chỉ biết cạnh tranh mà không biết cùng nhau ngồi lại bàn bạc, tư vấn lẫn nhau thì chắc chắn sẽ xảy ra thiệt hại. Dù ai mạnh, ai yếu thì hai bên kẻ cũng bể đầu, kẻ sức trán. Điện ảnh Việt Nam cũng chưa có ai thật sự là “đại gia” ghê gớm mà chơi trò “cá lớn nuốt cá bé”, để cùng nhau phát triển có lẽ nên có hiệp hội những nhà sản xuất điện ảnh, ở đó chúng ta sẽ bàn bạc, thương lượng, kể cả dung biện pháp chế tài những kẻ phá hoại sản xuất hoặc kinh doanh điện ảnh không lành mạnh…Đất nước ta có hơn 80 triệu dân, nhu cầu xem phim rất lớn và nếu như có sự phối hợp nhịp nhàng của các ban ngành sẽ không có cảnh mỗi năm chỉ chiếu phim được một mùa như hiện nay (mùa cuối năm- mùa tết)…Một bài học của các nhà làm phim trước năm 1975 hoặc điện ảnh Hàn Quốc gần đây còn đó: Giao rạp cho các nhà sản xuất và kinh doanh, muốn nhập phim nước ngoài về chiếu thì phải sản xuất bao nhiêu phim Việt Nam, áp dụng chế độ miễn thuế…

Một nền điện ảnh và diễn xuất muốn mạnh, phải xây dựng được ngôi sao (Minh tinh), Muốn làm được,các nhà sản xuất phải có chiến lược lâu dài, phải chọn “đúng người” để đẩy, phải biết khán giả thích ai, kiểu gì, theo trào lưu nào… Để làm được điều này còn cần sự hỗ trợ rất lớn từ Chính phủ, từ các ngành liên quan, và cả sự quan tâm của khán gỉa…Có một sự thật là ở nước ta hiện nay dường như không “xem trọng” các nhân tố trong nước bằng nước ngoài…Bản thân của chúng ta cũng không thích tạo ngôi sao bằng việc dùng ngôi sao, đều đó minh chứng cho sự bất cập của đào tạo điện ảnh, của việc các sinh viên diễn xuất thất nghiệp, việc các ngôi sao ca nhạc, người mẫu nhảy sang đóng phim. Nhìn Bi sang Việt Nam với một chiến lược “tiền hô hậu ủng” mới thấy “Ngôi Sao” quan trọng đến thế nào. Bi thật sự được yêu thích tại Việt Nam không phải là nhờ tài hát hay, múa giỏi của anh mà chính là do sự thành công quá lớn của “Ngôi nhà hạnh phúc”, người ta thích Bi, tò mò về Bi, nhìn thấy Bi- diễn viên bằng xương bằng thịt nhiều hơn là ước mơ thưởng thức anh chàng Bi- ca sĩ. Để cho Bi tỏa sáng lung linh như hiện nay, công ty quản lý, bầu show,.. phải làm việc cật lực và có chiến lược rất lâu với sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều ban ngành, nhiều tổ chức như đài KBS, MBC, Các công ty du lịch, các sản phẩm điện tử…họ đã góp phần đẩy mạnh hình ảnh Bi, làm cho nó quyến rũ và lớn dần theo năm tháng. Còn ở nước ta? Các ngôi sao của chúng ta thường “tự thân hoạt động”, mà thật ra có muốn hội nhập, muốn làm “ngôi sao” ai khuyến khích? Có cũng được mà không cũng chẳng sao? Nếu những Mỹ Tâm, Đan Trường, Đàm Vĩnh Hưng mà đang là số một tại Hàn Quốc thì chắc chắn họ có thể tỏa sáng như Bi…Đừng nói đâu xa, Tăng Thanh Hà với gương mặt cực kỳ ăn ảnh và một nét diễn rất bình dị và dễ thương nếu là diễn viên ở Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc thì đã khác, sức quyến rũ cũng khác…đơn giản họ hiện đại và chuyên nghiệp hơn các nhà làm kinh doanh nghệ thuật xứ ta.

LÊ QUANG THANH TÂM

Bạn có thể quan tâm