Tác động của cuộc đình công xuất hiện tức thì. Iran là nước xuất khẩu dầu lớn thứ hai sau Ả-rập Xê-út. Trong số 5,5 triệu thùng dầu sản xuất mỗi ngày có khoảng 4,5 triệu thùng được xuất khẩu, số còn lại tiêu dùng trong nước. Đầu tháng 11, lượng xuất khẩu giảm xuống ít hơn một triệu thùng một ngày, và 30 tàu chở dầu nằm chờ ở cảng xếp dỡ tại đảo Kharg mà không có dầu, trong khi trên thị trường quốc tế, nhu cầu sử dụng dầu cho mùa đông đang tăng.
Phản ứng trước tình hình suy giảm chung trên thị trường, các công ty xăng dầu lại để cho kho dầu giảm. Liệu thị trường thế giới có bị thiếu hụt? Hơn nữa, sự ổn định của Iran phụ thuộc vào doanh thu bán dầu; đó là cơ sở của toàn bộ nền kinh tế. Người đứng đầu Công ty dầu mỏ quốc gia Iran đi miền nam, tới các khu mỏ để đối thoại với công nhân đang đình công. Khi đến đó, ông bị đám đông những kẻ đình công giận dữ vây quanh. Và ngay lập tức ông quyết định không đàm phán, mà bỏ trốn khỏi đất nước. Dường như không có cách nào để chấm dứt cuộc đình công.
Trong nỗ lực kiểm soát hỗn loạn ngày càng tăng, vua Iran đi một bước quan trọng mà ông luôn cố tránh né. Ông thành lập một chính quyền quân sự. Đây là cơ hội cuối cùng của ông, nhưng ông bổ nhiệm một vị tướng ốm yếu để lãnh đạo. Vị tướng ngay sau đó bị đau tim và không thể nắm quyền.
Chính phủ mới đã có thể khôi phục lại trật tự trong ngành dầu mỏ và sản xuất hoạt động trở lại, ít nhất là trong thời điểm hiện tại. Binh lính cũng được điều đến trụ sở Osco ở Ahwaz, nơi họ cùng chung sống chẳng dễ dàng gì với đám công nhân đình công, những người vẫn tiếp tục ở lì trong các hành lang.
|
| Người Iran những năm 1970. Ảnh: Whenonearth. |
Trong khi đó, chính sách của Mỹ, đồng minh quan trọng nhất của Iran lại lộn xộn. Trong năm 1978, các quan chức cấp cao của Chính quyền Carter bị rối trí và phân tán bởi các tiến triển khác: Hiệp định hòa bình ở Trại David với Ai Cập và Israel, các cuộc đàm phán về vũ khí chiến lược với Liên Xô, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Chính sách ngoại giao của Mỹ lúc đó dựa trên cơ sở rằng Iran là đồng minh đáng tin cậy và sẽ là “Trụ cột lớn” trong khu vực. Chiều theo ý vua Iran và không muốn chọc tức ông, các quan chức Mỹ đã giữ khoảng cách với các nhóm đối lập khác nhau của chính phủ, có nghĩa là họ cũng thiếu thông tin về phe đối lập đang nổi lên. Thậm chí không hề có báo cáo cho Washington về việc Ayatollah đang nói gì trong những cuốn băng tuyên truyền. Một số ở Washington nói rằng tình trạng náo động ở Iran là âm mưu bí mật.
Và, như thường lệ, lại có câu hỏi tương tự: Mỹ có thể làm gì, bất kể tình hình là thế nào? Chỉ một số ít quan chức Mỹ cho rằng quân đội Iran có thể chịu đựng được cuộc nổi loạn dai dẳng trên toàn đất nước và tình trạng những người lính rời bỏ hàng ngũ. Thật sự là trong vài tháng cuối năm 1978 đã có một cuộc chiến căng thẳng ở Washington về chính sách.
Làm thế nào để bênh vực vua Iran hoặc bảo đảm một chính quyền kế tiếp thân thiện? Làm thế nào để ủng hộ vua Iran mà không quá thân thiết để có thể có mối quan hệ với chính quyền mới, nếu ông ta bị lật đổ? Làm thể nào để tách ra, nếu yêu cầu phải thế, mà không tổn hại đến vua Iran trong trường hợp ông ta vẫn nắm quyền?
Sự do dự và dao động ở Washington dẫn đến những dấu hiệu trái ngược đối với Iran: vua Iran nên từ bỏ, nên sử dụng lực lượng quân đội, nên theo dõi tình hình nhân quyền, quân đội phải táo bạo, quân đội nên đứng ngoài, nên thành lập chế độ bù nhìn.
Một quan chức cao cấp nhớ lại: “Nước Mỹ chưa bao giờ đưa ra một tín hiệu rõ ràng, kiên định. Thay vì do dự giữa hành động này và hành động khác, chúng tôi nên chọn và theo đuổi một chính sách.”
Sự không nhất quán của Washington khiến vua Iran và các quan chức cấp cao của ông cũng bối rối, ảnh hưởng đến tính toán của họ, và làm cho quyết tâm của họ yếu hẳn đi. Và không một ai ở Washington biết về căn bệnh của vua Iran.
Thực tế là vua Iran trở thành đối tượng của sự chỉ trích và ghét bỏ trên truyền thông ở Mỹ và những nơi khác, làm cho những nỗ lực nhằm xây dựng vội vàng vị thế mới của nước Mỹ trở nên phức tạp. Một bài báo đã ca tụng Khomeini trên tờ New York Times, theo đó “những người tuỳ tùng của ông là những cá nhân ôn hòa, năng nổ” và làm thế nào Khomeini có thể mang lại “một nhà nước nhân văn cho một nước ở thế giới thứ ba”.
Đại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc Andrew Young còn đi xa hơn; ông nói Khomeini sẽ được gọi là “Thánh”. Carter lúc đó bối rối ngay lập tức cảm thấy cần phải làm rõ: “Phong Thánh không phải là việc của nước Mỹ.”
Một quan chức cấp cao của Mỹ, người tham gia vào mọi cuộc khủng hoảng ở Trung Đông từ đầu những năm 1960, đã thiếu chặt chẽ khi ghi lại sự thật khác thường rằng buổi họp cấp cao đầu tiên về Iran không diễn ra cho đến đầu tháng 11. Ngày 9 tháng 11, William Sullivan, đại sứ Mỹ tại Tehran, cuối cùng đối mặt với một thực tế không thú vị gì khi thông tin về Washington: “Nghĩ đến điều không thể nghĩ đến”. Ông ta nói: Có lẽ vua Iran không thể tồn tại lâu hơn được nữa. Mỹ nên bắt đầu xét đến những điều bất ngờ và sự thay đổi quyền lực.
Nhưng ở Washington, nơi mà mọi người vẫn tiếp tục mâu thuẫn, thì không hề có phản ứng có ý nghĩa nào. Đến nỗi Tổng thống Carter phải viết thư tay cho bộ trưởng Ngoại giao, Cố vấn An ninh quốc gia, Bộ trưởng Quốc phòng, và giám đốc CIA để hỏi tại sao ông không hề được thông báo trước về tình hình bên trong Iran. Trong lúc đó, Đại sứ Sullivan lại đi đến kết luận là Mỹ đối mặt với tình hình ở Iran “mà không có chính sách rõ ràng gì”.