Hiện nay, hai tiếng “Phật Tích” đang được dùng phổ biến như một tự danh (dùng để gọi tên một ngôi chùa). Ví dụ: “Chùa Phật Tích” là nhan đề của bài viết trong cuốn sách nổi tiếng Chùa Việt Nam, hay câu: “Thường gọi là chùa Phật Tích” (usually called Phật Tích temple) trong cuốn sách 500 danh lam Việt Nam để nói về ngôi chùa chúng ta đang nghiên cứu ở đây.
Tuy nhiên, câu: “Thường gọi là chùa Phật Tích” trong sách 500 danh lam Việt Nam lại được viết dưới nhan đề là “Chùa Vạn Phúc”.
Và ba chữ Hán chua dưới nhan đề “Chùa Phật Tích” của sách Chùa Việt Nam cũng được ghi rõ là “Vạn Phúc tự”. Vậy là, cổ thời và cổ truyền, không có tự danh và ngôi chùa nào là Phật Tích, như hiện nay ta quen gọi, mà chỉ có tự danh và ngôi chùa Vạn Phúc.
Viết về ngôi chùa Vạn Phúc này, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (giữa thế kỷ XIX) có một thông tin liên quan đến Phật Tích, nhưng đấy lại là một địa danh cấp xã (xã danh, không phải tự danh), với nguyên văn: “Chùa Vạn Phúc ở núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du”. Với câu văn địa chí học này, cùng lúc đề cập vấn đề xã danh Phật Tích, sách Đại Nam nhất thống chí còn “kéo” vào đây hai vấn đề là: sơn danh và quả núi Lạn Kha (mà dưới đây sẽ xin được bàn đến sau), và huyện danh cùng đơn vị hành chính - cư dân cấp huyện Tiên Du.
Về nguồn gốc và thời điểm ra đời của huyện danh và đơn vị hành chính - cư dân cấp huyện gọi là “Tiên Du”, trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời, học giả Đào Duy Anh cho biết rõ: huyện này được lập (đặt) vào thời Trần, và vì có núi Tiên Du, cho nên gọi thế (tức là huyện danh bắt nguồn từ sơn danh). Về sơn danh và ngọn núi Tiên Du, trong bài viết “Giá trị Phật Tích trong các quốc tự thời Lý” có câu: “Đột khởi giữa chốn bình điền của đồng bằng châu thổ sông Hồng, núi Tiên Du mà sau này đến cuối đời nhà Trần gọi là núi Phật Tích...”.
Với câu này, đã có sự “móc nối” Phật Tích vào với Tiên Du, nhưng ở đây, Phật Tích vẫn là một sơn danh (“núi Phật Tích”) mà không phải là tự danh. Thế là thông tin đã nhiều, nhưng “chùa Phật Tích” vẫn chưa thấy có manh mối nào, mà chỉ có “xã Phật Tích”, hoặc giả là “núi Phật Tích” thôi. Vậy là - như nhan đề bài nghiên cứu này - dùng phiếm chỉ từ “Phật Tích”, để xem ở chỗ không (chưa) được xác định là “chùa Phật Tích”, tại sao lại có tình trạng như thế.
|
| Phật Tích không chỉ là trung tâm Phật giáo mà còn lưu giữ kho tàng truyền thuyết, sinh hoạt văn hóa - văn nghệ dân gian. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bắc Ninh |
2. Viết về “núi Lạn Kha ở xã Phật Tích, cách huyện (lị) Tiên Du 6 dặm về phía nam”, sách Đại Nam nhất thống chí có một câu khá bất ngờ rằng: “Trên núi có... nhà đá”. Bài văn bia Vạn Phúc đại thiền tự bi khắc năm Chính Hòa thứ 7 (1686), còn có câu hoa mỹ hơn là: “Trên đỉnh cao mở ra một tòa nhà đá... tự nhiên sáng như ngọc lưu ly...”. Công trình kiến trúc được nói đến trong các văn bản thế kỷ XVII và XIX vẫn đang hiện diện trên đỉnh núi. Sách Chùa Việt Nam có một tấm ảnh (ảnh màu, chụp năm 2008) về công trình kiến trúc đá, kèm lời ghi chú: “Di tích cự thạch trên núi Lạn Kha”.
Đây quả thật là di tích văn hóa cự thạch (Mégalithe) và còn có thể phân loại chi tiết hơn nữa về “di tích cự thạch” này. Trong ba loại hình của văn hóa (sử dụng cấu kiện) đá lớn tức cự thạch là “chồng đá” (dolmen), “quây đá” (cromlech), và “hòn đá” (menlior), thì di tích này thuộc loại hình thứ ba. Ở Xuân Lộc (gần Biên Hòa, Đồng Nai) cũng đã tìm được di tích thuộc loại hình “hòn đá” này. Các nhà khảo cổ cho rằng đây là một loại hình mộ táng của người xưa, có niên đại trước hoặc sau Công nguyên.
Như vậy, chứng tích (di tích) của lớp văn hóa đầu tiên phi Phật giáo và tiền Phật giáo vẫn hiện tồn ở núi Lạn Kha, tức núi Tiên Du, mà theo Thượng tọa, Tiến sĩ Thích Đức Thiện, khoảng từ cuối đời nhà Trần cũng chính là “núi Phật Tích”. Giải thích nghĩa danh của tên núi Lạn Kha, sách Đại Nam nhất thống chí và nhiều cổ thư khác đều kể ra sự tích Vương Chất” gặp tiên đánh cờ trên núi (“bàn cờ” bằng đá, hiện vẫn còn) bèn chống rìu đứng xem, đến lúc tiên chơi xong ván cờ, bay về trời, Vương Chất mới nhìn đến rìu thì cán rìu đã mục - “Lạn Kha” (vì một ngày ở cõi tiên bằng mấy trăm năm cõi trần).
Sách Đại Nam nhất thống chí còn dẫn thêm sách Truyền kỳ mạn lục, chép việc “Từ Thức cởi áo chuộc người tiên nữ” cũng là ở núi Lạn Kha này. Và giải thích thêm: “Vì thế, núi này còn có một tên nữa là 'núi Tiên Du'”. Cụ thể hóa hơn nữa sự tích này, sách Chùa Việt Nam viết: “Tương truyền bậc nền thứ nhất là sân chùa (Vạn Phúc), với vườn hoa mẫu đơn - nơi đã xảy ra câu chuyện truyền kỳ diễm tình Từ Thức gặp tiên”. Đây là những tư liệu ảnh xạ của lớp văn hóa thứ hai mang đầy màu sắc của “đạo thần tiên” (Lão giáo, Đạo giáo), ở núi Lạn Kha, núi Tiên Du.
Tiếp đó, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “nay đổi là Phật Tích”, tức là đến đời Nguyễn - niên đại viết sách mới có việc đổi gọi Lạn Kha, Tiên Du thành Phật Tích. Góp thêm vào cho sự thực tồn của lớp văn hóa thứ hai - “đạo thần tiên phi tiền hoặc giả hòa trộn cùng Phật giáo” - ở Lạn Kha - Tiên Du (và đến thế kỷ XIX thì có thêm tên gọi là Phật Tích), còn có tư liệu (câu chuyện) sau đây, được viết trong Đại Nam nhất thống chí: “Về góc phía bắc của núi, có chùa Kim Ngưu, tức là chỗ Cao Biền đào giếng, thấy con trâu vàng ở trong núi chạy ra. Đá ở đây sắc đỏ như vàng, đêm có ánh sáng, nên cũng gọi là núi Kim Ngưu”.
Lúc này mới đến lớp văn hóa thứ ba: “văn hóa Phật giáo” - lớp này có thể chia ra làm hai đợt: 1- Đợt 1, không còn chứng tích, nhưng có sự tích. Ấy là chuyện sư Thích Đàm Hoằng ở chùa Chi Đài (Quảng Châu) đưa tín ngưỡng Tịnh độ A Di Đà vào Giao Châu, khi đến tu ở chùa Tiên Sơn, thậm chí tự thiêu ở đây vào năm 455. Nếu có thể hiểu “chùa Tiên Sơn” là “chùa ở núi Tiên Du”, thì câu chuyện ở thế kỷ V sau Công nguyên này có thể xem như là cứ liệu đầu tiên cho biết (nói về) đợt thứ nhất của lớp văn hóa thứ ba - văn hóa Phật giáo - tại sơn danh và ngọn núi Lạn Kha - Tiên Du, cả Kim Ngưu nữa, mà đến và từ thế kỷ XIX mới có thêm tên là Phật Tích.
Không có tên chùa cụ thể ở đây, lúc này, nhưng đến cuối thế kỷ VI, đầu thế kỷ VII, với câu chuyện về sư Pháp Hiền (viên tịch năm 626) - học trò của sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitazuci, người Ấn Độ, hóa năm 594) - được chép vào sách Thiền uyển tập anh thì cơ sở tôn giáo mà sư Pháp Hiền dựng ở “trên núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du” đã có tên, không phải là “chùa Phật Tích”, mà là chùa Chúng Thiện. Đó là tự danh và ngôi chùa có tên gọi duy nhất được nhận biết trong đợt thứ nhất của lớp văn hóa Phật giáo ở trên núi Lạn Kha - Tiên Du.
Bởi vì, cuối (hết) đợt này - vào thế kỷ IX sau Công nguyên - vẫn theo sách Thiền uyển tập anh thì sư Lập Đức (800 - 860), trước khi được sư Vô Ngôn Thông truyền thừa và đổi tên là Cảm Thành, đã có thời gian “tu ở chùa Tiên Du” (tức là “chùa ở trên núi Tiên Du (Tiên Sơn)”, không có tên gọi (tự danh) cụ thể, như “chùa Chúng Thiện” trước đây chẳng hạn).
2- Đến đợt thứ hai - chủ yếu vào thời Lý - của lớp văn hóa Phật giáo trên núi Lạn Kha - Tiên Du - Kim Ngưu - Thiên Phúc - Phật Tích, thì tình hình khác hẳn: xuất hiện vô số chùa và tự danh. Thống kê qua những trang biên niên của các bộ chính sử - Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục... thì trong đợt này, ở đây, ít nhất cũng đã được xây dựng và tồn tại:
- Chùa Trùng Quang, được vua Lý Thái Tông ngự đến năm 1034, sai làm thêm cả kho Trùng Hưng, để đến năm 1036 thì cho chép kinh Đại Tạng cất ở kho này, rồi đến năm 1038 lại cho dựng bia “Chùa Trùng Quang” ở đây nữa.
- Viện Từ Thị Thiên Phúc, được vua Lý Thái Tông ngự đến năm 1041 để xem xây dựng.
Đến khi về Kinh đô Thăng Long, vua lại xuống lệnh cho phát 7.560 cân đồng trong kho để đúc ba pho tượng Phật Di Lặc cùng hai vị Bồ Tát Hải Thanh, Công Đức và chuông để ở viện này.
- Chùa Vạn Phúc (?), do vua Lý Thái Tông vào năm 1057 cho xây “cây tháp quý cao ngàn trượng, tạc pho tượng mình vàng cao 6 thước, cấp hơn trăm mẫu ruộng, mà xây chùa chẵn trăm tòa” (theo văn bia Vạn Phúc đại thiền tự bi).
- Chùa Quảng Giáo (Quảng Hiếu) do vua Lý Nhân Tông cho xây từ năm 1121 đến năm 1123 thì hoàn thành... Tuy nhiều kiến trúc Phật giáo là thế, hơn nữa ở đợt mang niên đại thời Lý này, kể cả tấm bia chữ “Phật”, dài đến 1 trượng 6 thước, do vua Lý Thánh Tông, vào năm 1071 - một năm trước khi băng hà - đích thân viết chữ và “cho đặt ở chùa Tiên Du”, nhưng không hề thấy tự danh và ngôi chùa nào có tên là Phật Tích cả.
Sang đến đời Trần, đây là lúc thêm một lớp văn hóa thứ tư - lớp văn hóa Nho giáo và Nho học đến lúc này vẫn chủ yếu và phổ quát - được gọi bằng tên “Tiên Du”, in đậm dấu ấn của lớp văn hóa thứ hai. Có khá nhiều tư liệu cho thấy lớp văn hóa Nho giáo - Nho học này, chẳng hạn trong biên niên sử năm Xương Phù thứ 8 (1384) của sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mùa xuân, tháng 2, Thượng hoàng (Trần Nghệ Tông) cho thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc núi Tiên Du, [lấy đỗ] bọn Đoàn Xuân Lôi, Hoàng Hối Khanh... 30 người... Mùa hạ, tháng 5, chọn số Thái học sinh còn lại, cho làm thư sử ở cung Bảo Hòa” .
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép năm Quý Hợi (1383): “Thượng hoàng (Trần Nghệ Tông) sang chơi cung Bảo Hòa, sai bọn Thiêm tri nội mật viện sự Nguyễn Mậu Tiên và Lễ bộ Lang trung Phan Nghĩa thay phiên nhau túc trực, tới bữa ban cho ăn, để hỏi han những chuyện cũ, hằng ngày giữ việc ghi chép, biên thành 8 quyển, đặt tên sách là Bảo Hòa dư bút, sai Đào Sư Tích đề tựa”. Tiếp liền sau là “lời chua” của sách này: “Cung Bảo Hòa ở núi Lạn Kha (nay đổi là Phật Tích) huyện Tiên Du. Theo sách An Nam chí của Cao Hùng Trưng đời Minh, thời nhà Trần có dựng “Lạn Kha thư viện”, dùng danh nho Trần Tôn làm Viện trưởng, dạy các sinh đồ. Nhà vua thường đến chơi. Vậy cung Bảo Hòa chính là ở đó”.
Sách Đại Nam nhất thống chí nói rõ thêm về việc “nhà vua thường đến chơi” cung Bảo Hòa ở núi Tiên Du về đời Trần, là tiết Trùng dương (mồng 9 tháng Chín), không phải là mồng 8 tháng Tư. Lại còn cho biết thêm: thời Hậu Lê, vua Lê Hiển Tông (trị vì 1740 - 1786) cũng hay đến đây mở yến hội.
3. Vậy là từng có đến ít nhất bốn lớp văn hóa đã xuất hiện, tồn tại và để lại dấu tích tại nơi đang được gọi là chùa Phật Tích hiện nay. Sự tích này dường như có thể đặt ra cho công trình kiến trúc Phật giáo, đang được gọi là “chùa Phật Tích”, đặc biệt là công cuộc mở mang và vận hành công trình này mấy gợi ý như sau:
- Tự danh “chùa Phật Tích” mà hiện nay ta đang sử dụng, liệu chăng có cơ sở đích thực cụ thể và truyền thống (cổ truyền)?
- Tự danh này và những chữ đi kèm với nó liệu có chăng, sự dung chứa đầy đủ, khách quan và cân bằng các giá trị văn hóa đã từng thực sự có ở không gian văn hóa này?
- Các thuật ngữ: “mỹ thuật Phật Tích”, “nghệ thuật Phật Tích”, thậm chí câu khái quát “giá trị Phật Tích” đang được sử dụng là để nói đến/bàn về mỹ thuật, nghệ thuật và... giá trị nào?
- Về phương diện và giá trị phi vật thể, chẳng hạn “hội xem hoa” xưa hằng năm cứ đến mồng 4 tháng Giêng lại mở ở chùa Vạn Phúc (do đó, Từ Thức mới gặp được tiên ở bậc thềm (tầng cấp) thứ nhất của chùa); hay như việc thờ riêng Phật Di Lặc ở Viện Từ Thị Thiên Phúc (năm 1041); dấu ấn Thiền phái Thảo Đường của Phật hoàng Lý Thánh Tông trong việc “xây tháp ở núi Tiên Du” (năm 1066), “viết bia chữ Phật” dài 1 trượng 6 thước đặt ở chùa Tiên Du” (năm 1071); ảnh hưởng của Mật giáo (Mật tông) ở và qua “pho tượng mình vàng” được gọi - giữa nhiều cách gọi - là Phật A Di Đà (năm 1057)... hiện nay mang ý nghĩa như thế nào trong giáo lý (giáo phái) cùng học thuyết (kinh và lễ) đang vận hành (thực hành) ở “chùa Phật Tích”; hay (hoặc giả là) chỉ cần nhận về (đặt cho) gọn gàng một “mỹ tự” như “Trúc Lâm” (ở Tây Thiên, Sóc Sơn, Hàm Rồng, Bạch Mã, hoặc Đà Lạt)?
Đến đây, một vấn đề cần quan tâm là: Về mặt văn hóa vật thể, công trình kiến trúc - quy hoạch ở “chùa Phật Tích” hiện nay (như: “Quan Âm viện”, hội trường, bảo tàng, ngôi chùa và pho tượng trên đỉnh núi, tòa tháp...) nguy nga đồ sộ, nhưng rõ ràng là không có cơ sở nào trong truyền thống (quá khứ) xây dựng ở các lớp văn hóa thứ nhất, thứ hai và thứ tư.
Tuy nhiên, ngay ở lớp văn hóa thứ ba - văn hóa Phật giáo - cũng không thấy (ngôi chùa mới hoàn công, đã xây đúng vào vị trí của tòa “tháp núi Tiên Du” (năm 1066), tích hợp móng nền của tòa tháp này vào trong... lòng chùa!).
Như vậy, rõ ràng là đã tạo lập một mô hình hiện đại (giữa các “mô hình” khác, như ở: Bái Đính, Sóc Sơn, Yên Tử) cho việc xây dựng chùa chiền (kiến trúc Phật giáo) ở Việt Nam. Nhưng cũng rõ ràng là không thể theo như cách đặt tên: “Trúc Lâm Tây Thiên”, “Trúc Lâm Đà Lạt”... mà gọi “Trúc Lâm Phật Tích ”.