Nếu có thể biến dòng suy nghĩ thành văn bản, đây sẽ là một bước ngoặt thực sự - và chính điều này đã thúc đẩy nhiều nhóm nghiên cứu theo đuổi việc hoàn thiện “bộ dịch sóng não - ngôn ngữ”. Năm 2020, các nhà nghiên cứu được Facebook tài trợ đã gắn 250 điện cực ngoài lên đầu người tham gia thử nghiệm, rồi dùng AI mạnh để tìm mối tương quan giữa hoạt động của vỏ não và từ ngữ trong các câu nói mẫu.
Với vốn từ mẫu gồm 250 từ, họ có thể dự đoán những gì người tham gia thử nghiệm đang nghĩ đến, với tỷ lệ sai số thấp đến 3%. Đây là một bước tiến rất đáng khích lệ, nhưng Facebook đã dừng dự án này năm 2021.
Câu hỏi hiện tại là: liệu câu hỏi này có thể mở rộng ra vốn từ lớn hơn (và do đó là tín hiệu phức tạp hơn) hay không, trong khi vẫn vấp phải giới hạn về độ phân giải không gian - thời gian. Dù sao đi nữa, nếu muốn “mở rộng” tân vỏ não, chúng ta vẫn cần làm chủ khả năng giao tiếp hai chiều với số lượng cực lớn các neuron.
Một trong những nỗ lực tham vọng nhất nhằm mở rộng số lượng neuron kết nối là Neuralinh của Elon Musk. Dự án này cùng lúc cấy rất nhiều điện cực mảnh như sợi chỉ vào não. Trong một thử nghiệm trên chuột, nhóm đã ghi được tín hiệu từ 1.500 điện cực - gấp nhiều lần so với các dự án trước đây.
Sau đó, một con khỉ được cấy điện cực đã dùng nó để chơi trò chơi điện tử Pong. Sau giai đoạn khó khăn về phê duyệt pháp lý, Neuralink đã được FDA chấp thuận để thử nghiệm trên người vào năm 2023, và ngay trước khi cuốn sách này được in, nhóm đã cấy thành công thiết bị 1.024 điện cực vào một bệnh nhân đầu tiên.
Trong khi đó, Cục Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tân tiến (DARPA) của Mỹ cũng đang theo đuổi một chương trình dài hạn có tên là Neural Engineering System Design (thiết kế hệ thống kỹ thuật thần kinh), với mục tiêu tạo ra giao diện có thể ghi dữ liệu từ một triệu neuron và kích thích được 100.000 neuron.
DARPA đã tài trợ cho nhiều chương trình nghiên cứu khác nhau, trong đó có nhóm từ Đại học Brown đang phát triển các “hạt thần kinh” nhỏ bằng hạt cát, có thể cấy vào não và giao tiếp lẫn nhau và với các neuron để tạo nên một “mạng nội bộ vỏ não”.
Cuối cùng, các giao diện não - máy tính có thể sẽ gần như không xâm lấn - với các điện cực vô hại ở cấp độ nano được đưa vào não qua hệ tuần hoàn.
Vậy ta cần lượng tính toán là bao nhiêu để ghi lại toàn bộ hoạt động não? Như đã trình bày ở phần trước, tổng lượng tính toán để mô phỏng một não người ước chừng khoảng 10 mũ 14 phép toán mỗi giây hoặc thấp hơn. Lưu ý rằng đây là mức cần thiết để tái tạo kiến trúc thực của não bộ, với khả năng vượt qua phép thử Turing và về mọi mặt đều trông giống não người trong mắt người quan sát bên ngoài.
Tuy nhiên, điều này không nhất thiết bao gồm tất cả mọi hoạt động sinh học bên trong não. Ví dụ, các quá trình như sửa đổi DNA trong nhân của từng neuron rất có thể không có liên quan gì đến chức năng nhận thức.
Dù não người có thể đang thực hiện đến 10 mũ 14 phép toán mỗi giây, một giao diện não - máy tính thực chất không cần phải xử lý toàn bộ số đó. Phần lớn những hoạt động này diễn ra ở các lớp sâu bên dưới tân vỏ não - ở mức sơ khởi. Điều ta cần, thực ra, chỉ là giao tiếp với các lớp trên cùng. Các quá trình phi nhận thức như điều tiết tiêu hóa chẳng hạn, hoàn toàn có thể bỏ qua. Vì vậy, tôi ước tính rằng một giao diện não - máy tính thực tế chỉ cần hàng triệu đến vài chục triệu kết nối đồng thời.
Để đạt được con số này, công nghệ giao diện sẽ phải liên tục được thu nhỏ - và AI tân tiến sẽ ngày càng đóng vai trò then chốt trong việc giải các bài toán kỹ thuật và thần kinh học đầy thách thức.
|
| Những tiến bộ trong công nghệ AI gắn liền với bộ não con người. Ảnh: Forbes. |
Vào một thời điểm nào đó trong thập niên 2030, chúng ta sẽ đạt được mục tiêu này nhờ các thiết bị siêu nhỏ gọi là nanobot. Các thiết bị điện tử bé xíu này sẽ kết nối các lớp trên cùng của tân vỏ não với đám mây, cho phép neuron của ta giao tiếp trực tiếp với các neuron mô phỏng được lưu trữ trực tuyến. Điều này sẽ không đòi hỏi một ca phẫu thuật não theo kiểu khoa học viễn tưởng - ta có thể đưa các nanobot vào não bằng phương pháp không xâm lấn thông qua mao mạch.
Khi đó, kích thước não người sẽ không còn bị giới hạn bởi việc phải chui qua “ống sinh”, mà có thể mở rộng vô hạn. Một khi lớp tân vỏ não ảo đầu tiên được “gắn thêm”, điều đó sẽ không dừng lại ở đó. Ta có thể “xếp chồng” thêm nhiều lớp mới (theo nghĩa tính toán) để đạt đến mức độ nhận thức ngày càng phức tạp. Khi thế kỷ này trôi qua và hiệu suất theo giá thành của máy tính tiếp tục tăng theo cấp số nhân, công suất tính toán mà não người có thể tiếp cận cũng sẽ tăng theo.
Bạn có nhớ điều đã xảy ra hai triệu năm trước, lần gần nhất ta có thêm tân vỏ não không? Khi ấy, chúng ta trở thành người. Khi kết nối được thêm tân vỏ não từ đám mây, cú nhảy vọt về sự trừu tượng trong nhận thức cũng sẽ tương tự. Kết quả sẽ là sự ra đời của những biểu đạt vượt xa mọi loại công nghệ hay nghệ thuật có thể có ngày nay - sâu sắc hơn những gì hiện ta có thể hình dung.
Dĩ nhiên, ta không thể tưởng tượng chính xác xem các phương tiện biểu đạt nghệ thuật tương lai sẽ trông như thế nào. Nhưng có thể suy ngẫm bằng một phép ẩn dụ từ cuộc cách mạng tân vỏ não lần trước. Hãy thử hình dung cảm giác của một con khỉ - một sinh vật thông minh, với não bộ khá giống con người - khi xem một bộ phim.
Nó sẽ không hoàn toàn xa lạ với hành động trên màn ảnh. Chẳng hạn, nó có thể nhận ra rằng những con người đang nói chuyện. Nhưng nó sẽ không hiểu các đoạn hội thoại, càng không thể giải mã những lớp nghĩa trừu tượng như “việc các nhân vật mặc áo giáp kim loại nghĩa là phim đang lấy bối cảnh thời Trung cổ”. Chính bước nhảy ấy là điều mà vỏ não trước trán của loài người đã mở ra.
Vì thế, khi nghĩ về nghệ thuật được sáng tạo cho những người có tân vỏ não kết nối đám mây, đây không chỉ là hiệu ứng CGI đẹp hơn hay kích thích thêm các giác quan như vị giác hay khứu giác. Đây là những khả năng hoàn toàn mới mẻ trong cách não bộ xử lý trải nghiệm. Ví dụ, ngày nay, diễn viên chỉ có thể thể hiện suy nghĩ của nhân vật thông qua lời thoại và biểu cảm bên ngoài. Nhưng mai này, nghệ thuật có thể truyền thẳng những dòng suy nghĩ thô, rối loạn, phi ngôn ngữ - với tất cả vẻ đẹp và độ phức tạp không thể gọi tên - vào tâm trí người xem. Đây chính là chiều sâu văn hoá mới mà các giao diện não - máy tính sẽ mở ra cho chúng ta.
Đây sẽ là một quá trình đồng sáng tạo - nơi ta tiến hoá chính tư duy của mình để khai mở những lớp sâu mới trong nhận thức, rồi dùng chính năng lực đó để tạo ra những ý tưởng siêu việt cho thế hệ trí tuệ tương lai khám phá tiếp.
Lần đầu tiên, chúng ta sẽ có quyền truy cập vào chính “mã nguồn” của mình với sự trợ giúp của AI có khả năng tự thiết kế lại bản thân. Bởi công nghệ này sẽ cho phép ta hợp nhất với siêu trí tuệ do chính mình tạo ra, nên về bản chất, chúng ta đang “xây lại” chính mình.
Một khi được giải phóng khỏi chiếc hộp sọ hữu hạn, và xử lý trên một nền tảng nhanh hơn mô sinh học hàng triệu lần, tâm trí con người sẽ có cơ hội tăng trưởng theo cấp số nhân và cuối cùng sẽ mở rộng trí tuệ con người hàng triệu lần. Đây chính là cốt lõi trong định nghĩa của tôi về Điểm kỳ dị.