|
|
Ảnh minh họa: Alexander Limbach/Shutterstock. |
Quyền lực thực sự của Cục Dự trữ Liên bang được kiểm soát bởi 12 Ngân hàng Dự trữ Liên bang, đặc biệt là Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, mà người đứng đầu là Benjamin Strong lừng danh. Strong là nhân vật tầm cỡ của tập đoàn Morgan, có mối quan hệ thân thiết với Norman, Thống đốc Ngân hàng Anh và Schacht, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Đức. Họ được gọi là “ba chàng lính ngự lâm” của đấu trường tài chính thế giới những năm 1920.
Strong tận mắt chứng kiến những lô vàng được vận chuyển từ châu Âu đến New York bằng tàu, sau đó tràn vào hầm chứa của các ngân hàng New York như thác lũ. Kết quả là tín dụng lan tràn và giá cả ngày càng tăng cao. Không thể khoanh tay đứng nhìn cơn lũ vàng này phá vỡ con đập của đồng đôla, ông buộc phải thu hẹp nguồn cung tiền để giảm bớt áp lực tăng giá.
|
| Benjamin Strong - một trong ba chàng lính ngự lâm của đấu trường tài chính thế giới đầu thế kỷ XX. Ảnh: Federal Reserve Bank of New York. |
Khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ mới được thành lập, phương pháp chủ đạo của nó là tác động đến môi trường tín dụng bằng cách điều chỉnh lãi suất chiết khấu. Bất kỳ ngân hàng nào tham gia vào hệ thống Dự trữ Liên bang đều có thể đăng ký một khoản vay từ Ngân hàng Trung ương thông qua cơ chế chiết khấu.
Khi một khoản vay được đăng ký với Ngân hàng Trung ương, lãi suất chiết khấu là lãi suất mà ngân hàng trung ương sẵn sàng cung cấp cho khoản vay đó. Khi Ngân hàng Trung ương tăng lãi suất chiết khấu, nhu cầu của các ngân hàng thương mại trong việc lấy tiền từ Ngân hàng Trung ương sẽ bị kìm hãm bởi chi phí .
Nhưng đến đầu những năm 1920 thì phương pháp này không còn hiệu quả nữa. Do vàng từ châu Âu đang đổ tới dữ dội, toàn bộ ngân hàng New York đều tràn ngập trong vàng thỏi. Vàng chính là nguồn cung cấp tiền cho các chủ ngân hàng, vì vậy trên thị trường xuất hiện quá nhiều tiền, các ngân hàng không cần phải vay tiền từ Ngân hàng Trung ương nữa. Strong đã điều chỉnh mạnh lãi suất chiết khấu nhưng không thể ngăn được cơn lũ tín dụng đang cuồn cuộn lao đến.
Ông bắt buộc phải tìm ra một cách hiệu quả hơn để kiểm soát trực tiếp lượng tiền cung ứng. Kết quả là Strong đã đi tiên phong bằng phương pháp: Ngân hàng Trung ương bán tài sản trái phiếu kho bạc ra thị trường để cứu vãn tiền tệ. Tương tự vậy, nếu trên thị trường không đủ tiền, Ngân hàng Trung ương sẽ tạo ra tiền tệ để mua tài sản và bơm đôla vào thị trường. Đây là điều mà ngày nay người ta gọi là nghiệp vụ thị trường mở.
Vào thời điểm đó, cách tiếp cận của Strong rõ ràng bị coi là quái đản. Trong Bản vị Vàng, vàng là tài sản cốt lõi và tỷ trọng của nó phải chiếm lợi thế tuyệt đối, các tài sản khác (như trái phiếu kho bạc và thương phiếu) chỉ là tài sản phụ. Tuy nhiên, kết quả từ “nghiệp vụ” này của Strong là tỷ lệ nợ quốc gia sẽ ngày càng tăng trong tổng tài sản của Ngân hàng Trung ương, về cơ bản sẽ phá bỏ định nghĩa về tài sản dự trữ.
Tại sao việc dự trữ tiền tệ của Ngân hàng Trung ương phải chủ yếu dựa vào vàng? Theo hệ thống Bản vị Vàng, tỷ lệ giá trị giữa vàng và tiền được xác định theo pháp luật. Khi Ngân hàng Trung ương tạo ra tiền để mua tài sản hoặc bán tài sản để rút tiền, nếu tài sản là vàng thì tài sản và tiền tệ hoán đổi luôn có giá trị bằng nhau.
Nguyên tắc “tài sản và tiền tệ phải được trao đổi tương đương” này thực sự là nền tảng của sự cân bằng và ổn định giữa tài sản và nợ của Ngân hàng Trung ương. Thay thế vàng bằng trái phiếu kho bạc, trong khi trái phiếu kho bạc luôn tồn tại khả năng vỡ nợ trực tiếp hoặc gián tiếp, về cơ bản sẽ phá vỡ cốt lõi của sự ổn định tiền tệ, gây ra sự chênh lệch giá thực tế giữa các sàn giao dịch tiền tệ và tài sản của Ngân hàng Trung ương, tạo ra xu hướng giảm giá tiền tệ tự nhiên.
Hiển nhiên, hệ thống ngân hàng rất hoan nghênh sự đổi mới này. Cũng là tài sản của ngân hàng, vàng tuy ổn định nhưng không có thu nhập từ lãi, trong khi nợ quốc gia tuy không ổn định nhưng vẫn mang lại dòng tiền. Nợ quốc gia là tài sản đảm bảo cho việc đóng thuế trong tương lai của toàn dân, chỉ cần người dân vẫn chăm chỉ làm việc thì Chính phủ sẽ có nguồn thu từ thuế, nếu thu từ thuế lớn hơn chi tài khóa thì dòng tiền của nợ quốc gia sẽ được đảm bảo.
Việc các ngân hàng ủng hộ thay thế vàng bằng nợ quốc gia là hoàn toàn thực tâm; với tư cách là tài sản cốt lõi của hệ thống ngân hàng, nợ quốc gia không chỉ tạo cơ sở để cho vay mà còn có thể thu được lãi. Bằng cách này, họ sẽ thu được hai nguồn lợi nhuận: Một là thu lãi thông qua việc cho vay, hai là chuyển một phần thuế quốc gia cho hệ thống tài chính từ khoản lãi của nợ quốc gia.