Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Format-Lifestyle

Sổ tiết kiệm, chiếc nhẫn một chỉ vàng của vợ chồng GS Trần Đại Nghĩa

Trong hồi ký mới ra mắt, đạo diễn Xuân Phượng kể về quá trình rời nghề y để làm phim tài liệu, bà nhận được sự giúp đỡ của vợ chồng GS Trần Đại Nghĩa.

"Em càng phải can đảm hơn, em can đảm nhé!". Đó là lời GS Trần Đại Nghĩa động viên đạo diễn Xuân Phượng. Vợ chồng vị giáo sư không chỉ động viên tinh thần, còn hỗ trợ bà vật chất để yên tâm làm phim tài liệu.

Nhân dịp ra mắt hồi ký thứ ba Chân cứng đá mềm, đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng (97 tuổi) đã có cuộc trò chuyện về cuộc đời làm phim, những nhân vật bà từng gặp và các ký ức chưa kể hết trong sách.

Kỷ niệm với Bác Hồ, GS Trần Đại Nghĩa

- Hồi ký “Chân cứng đá mềm” của bà nói về cuộc đời làm phim tài liệu nhưng tại sao chỉ nhắc đến 13-14 bộ phim?

- Tất nhiên là tôi làm nhiều phim hơn con số đó, tổng cộng 42 phim. Tôi chỉ đưa vào 14 phim vì hiểu rõ một quyển sách quá dài sẽ ít người đọc. Thứ hai là mình muốn ghi vào những điều ấn tượng nhất. Có những chuyện khác rất hay nhưng tôi chưa viết.

xuan phuong anh 1

Nhà văn, đạo diễn Xuân Phượng và đạo diễn Joris Ivens trong buổi quay phim Bác Hồ năm 1968. Ảnh: NVCC.

- Bà từng có cơ hội tham gia đoàn quay phim Bác Hồ. Kỷ niệm đáng nhớ nhất trong những lần làm việc cùng Bác là gì?

- Một trong những ấn tượng sâu sắc nhất trong cuộc đời làm phim của tôi là lần quay phim Bác Hồ vào năm 1968, chỉ một năm trước khi Bác qua đời. Khi đó, Bác có buổi gặp gỡ các anh hùng, dũng sĩ miền Nam và các anh hùng phi công miền Bắc tại Phủ Chủ tịch. Lúc bước ra, Bác đội một chiếc mũ lưỡi trai.

Đạo diễn Joris Ivens lúc ấy muốn có những thước phim chân thực và đẹp nhất nên đã yêu cầu tôi vào thưa với Bác bỏ mũ ra. Dù trong lòng ngần ngại và lo lắng, vì nhiệm vụ của một người phiên dịch, tôi bước đến chỗ Bác đang ngồi trò chuyện cùng các chiến sĩ.

Khi tôi trình bày nguyện vọng của đạo diễn, Bác hóm hỉnh hỏi lại: "Cái mũ này không đẹp à?". Trong khoảnh khắc xuất thần, tôi nói: "Thưa Bác, cái mũ rất đẹp nhưng tóc Bác đẹp hơn".

Câu trả lời đó khiến Bác mỉm cười, khen ngợi: "Nhà báo phải như cô này mới được", rồi bỏ mũ ra và đội lên đầu tôi. Qua sự kiện đó, tôi không chỉ thấy được sự gần gũi của Bác mà còn học được bài học về sự can đảm, khéo léo trong nghề nghiệp.

- Trong hồi ký, bà có nhắc đến chuyện GS Trần Đại Nghĩa đã đến thăm và ủng hộ khi bà quyết định rời ngành y để sang xưởng phim tài liệu. Ông đã hỗ trợ bà như thế nào?

- Quyết định chuyển ngành của tôi lúc bấy giờ gặp phải sự phản ứng gay gắt từ cơ quan vì họ không muốn mất đi một người làm việc hiệu quả. Tuy nhiên, khó khăn nhất nằm ở vấn đề kinh tế. Khi rời vị trí bác sĩ trưởng phòng khám với mức lương cao để trở thành phóng viên chiến trường, tôi bị hạ xuống mức lương thấp nhất, tương đương với một người quét đường. Với ba người con chưa trưởng thành và người chồng là bộ đội thu nhập thấp, cuộc sống của tôi lúc đó rất bấp bênh. Tôi đã phải làm thêm đủ việc, từ dán từng chiếc bì thư bưu điện để đổi lấy vài đồng lẻ đến việc thuyết minh phim để trang trải cuộc sống.

Nếu không có sự hỗ trợ về cả vật chất lẫn tinh thần từ gia đình và những người bạn tri kỷ như vợ chồng GS Trần Đại Nghĩa, tôi đã không đủ bản lĩnh để lao vào nơi bom đạn, nơi mà cái chết luôn cận kề.

Đạo diễn, nhà văn Xuân Phượng

Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, tôi đã chia sẻ khó khăn với những đồng nghiệp cũ tại Bộ Quốc phòng, trong đó có GS Trần Đại Nghĩa. Những người bạn ấy đã lắng nghe và tìm cách giúp đỡ tôi. Anh Trần Đại Nghĩa đã nói một câu khiến tôi xúc động: "Anh rất quý em ở chỗ em đã chọn một cái nghề để cuộc sống của mình có ý nghĩa hơn, cho nên anh hoàn toàn tán thành".

Dù bản thân cũng không hề giàu có, anh Nghĩa đã trao cho tôi một cuốn sổ tiết kiệm để giúp tôi nuôi con. Vợ anh còn tháo chiếc nhẫn một chỉ vàng đang đeo trên tay để tặng tôi. Điều thiêng liêng nhất là khi anh nắm chặt tay tôi và dặn dò: "Em càng phải can đảm hơn, em can đảm nhé!". Lời động viên đó đã tiếp thêm cho tôi sức mạnh to lớn để dấn thân vào con đường gian khổ.

Nếu không có sự hỗ trợ về cả vật chất lẫn tinh thần từ gia đình và những người bạn tri kỷ như vợ chồng GS Trần Đại Nghĩa, tôi đã không đủ bản lĩnh để lao vào nơi bom đạn, nơi mà cái chết luôn cận kề.

- Trong sách, bà có kể về các tri thức quốc tế tới Việt Nam. Bà nghĩ tại sao nhiều đạo diễn, nhà văn và nhà thơ tên tuổi trên thế giới lại dành tình cảm đặc biệt và sự ủng hộ mãnh liệt cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến?

- Có rất nhiều bạn bè quốc tế dành tình cảm đặc biệt cho Việt Nam mà tôi được tiếp xúc như bà Blaga Dimitrova (cựu Phó tổng thống Bulgaria - PV), nhà văn, nhà báo Monika Warnenska, đạo diễn Joris Ivens hay nhà thơ, nhà báo Pháp Madeleine Riffaud… Theo tôi, động lực lớn nhất chính là sự kính phục trước một dân tộc nhỏ bé nhưng dám đứng lên chống lại mọi sức mạnh cường quyền. Khi chứng kiến một quốc gia vốn chưa được nhiều người biết đến trên bản đồ lại can đảm đối đầu với một nước hùng mạnh như Mỹ, lương tâm của họ đã bị đánh động mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, vì hầu hết họ từng trải qua nỗi đau của Thế chiến thứ hai, họ thấu hiểu sâu sắc sự cùng cực và khổ đau dưới ách thực dân, từ đó tạo nên một sợi dây đồng cảm mãnh liệt với khát vọng độc lập của Việt Nam. Họ đã không ngại rời bỏ sự an toàn tại quê nhà để dấn thân vào nơi bom đạn khốc liệt, dùng sức lực và trái tim mình để tạo nên những tác phẩm chân thực nhất.

Vì là những nhân vật có tiếng nói uy tín trên thế giới, khi họ lên tiếng, công chúng tại các nước tư bản lắng nghe và hiểu rõ hơn sự thật, từ đó tạo nên làn sóng ủng hộ mạnh mẽ dành cho Việt Nam. Việc tôi chọn đưa họ vào sách là để tôn vinh những gương mặt đại diện cho tấm lòng cương quyết, không sợ hiểm nguy vì tình yêu dành cho đất nước và con người Việt Nam.

Những người không ngừng ước mơ và không bao giờ lùi bước

- Vậy có câu chuyện nào không có trong sách mà bà muốn kể ngay với độc giả?

- Đó là một lần đi làm phim năm 1977 ở Tây Nguyên. Lần đó đoàn phim chúng tôi hợp tác với Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF). Họ yêu cầu chúng tôi làm một bộ phim về nước ở Tây Nguyên. Thế là năm đó chúng tôi lên vùng Đắk Lắk, đi vào những vùng không có nước sinh hoạt.

Tất cả nhân vật xuất hiện trong phim, trong sách của tôi, dù là bạn bè quốc tế hay những người dân bình dị, họ thành công đều nhờ vào một điểm - không bao giờ ngừng ước mơ và không bao giờ lùi bước trước nghịch cảnh.

Nhà văn, đạo diễn Xuân Phượng

Đối với đoàn làm phim, địa phương cấp cho 2 lít nước/ngày để sinh hoạt, bao gồm rửa mặt, nấu cơm, vệ sinh… Đó là đối với đoàn làm phim, với cán bộ đi theo chỉ 1 lít/ngày thôi vì năm đó vùng gặp hạn, khô cằn. Thế mà đoàn phim của tôi ở đó gần 2 tháng.

Vì thiếu nước, người dân địa phương ốm đau nhiều, trẻ con cũng còi cọc, hoa màu không thu hoạch được mấy. Phim này tôi đặt tên là Giọt nước cao nguyên. Khi tôi gửi phim này tới UNICEF, sau đó họ vận động thực hiện được hơn 500 cái giếng cho cao nguyên. Vài năm sau tôi trở về nông trường cà phê thì thấy khác hẳn, cây cối sum suê và cà phê bắt đầu nở rộ. Đó là điều khiến tôi xúc động.

- Bên cạnh chuyện làm phim, sách của bà thường nhắc đến những lần hội ngộ với nhân vật trong phim tài liệu. Trong số đó, ai là người để lại trong bà ấn tượng sâu đậm nhất?

- Thật khó để có thể so sánh hay chọn ra một người "sâu đậm nhất" vì mỗi nhân vật đều mang câu chuyện riêng và để lại trong tôi những dấu ấn không thể phai mờ. Dù đã qua 50 hay 80 năm, tôi vẫn nhớ rõ từng gương mặt ấy, từ cậu bé 9 tuổi ở Vĩnh Linh cho đến cô gái 19 tuổi phụ trách vườn trẻ dưới hầm.

Tôi nhớ mãi hình ảnh vườn trẻ trong lòng đất năm ấy. Mỗi khi bầu trời lặng tiếng máy bay, có một cô gái trẻ cần mẫn kéo ròng rọc đưa những chiếc nôi lên mặt đất để các em thơ có được vài phút ngắn ngủi nhìn thấy ánh sáng Mặt trời. Một lần nọ, khi máy bay bất ngờ ập đến, trong lúc vội vã kéo các em xuống hầm, một chiếc nôi không may bị mắc kẹt vào cành cây trên miệng hầm. Cô gái dũng cảm chạy lên gỡ chiếc nôi ra và ngay lúc đó, một viên đạn đã bắn trúng, khiến cô hy sinh khi mới vừa tròn tuổi 19.

Dù cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong ít phút và tôi thậm chí còn không biết tên cô nhưng sự hy sinh đó đã trở thành một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Chính sự hy sinh của cô gái trẻ và những đứa trẻ nơi chiến trường đã thôi thúc tôi mạnh mẽ, khiến tôi quyết định từ bỏ nghề y để theo đuổi nghiệp quay phim, với tâm nguyện dùng ống kính để tố cáo tội ác chiến tranh và lưu giữ những giá trị cao cả.

xuan phuong anh 2

Chân cứng đá mềm là hồi ký thứ ba của nhà văn, đạo diễn Xuân Phượng. Trước đó, bà ra mắt Gánh gánh... Gồng gồng... về những năm hoạt động cách mạng và Khắc đi, khắc đến về trải nghiệm mở phòng tranh ở tuổi hơn 60.

- Điều gì khiến cả ba hồi ký, bà đều dùng bìa sách là tác phẩm của họa sĩ Trương Đình Hào?

- Tôi là người trực tiếp lựa chọn tranh bìa vì sự trân trọng dành cho họa sĩ Trương Đình Hào và phong cách “tượng trưng chủ nghĩa” độc đáo của ông. Những bức tranh của ông không diễn tả nỗi đau hay niềm vui một cách trực diện mà thông qua các biểu tượng đầy ý nghĩa; chẳng hạn, ở bìa sách Chân cứng đá mềm, hình ảnh cánh diều không đơn thuần là món đồ chơi, đó là biểu tượng của tự do và những ước mơ cháy bỏng.

Thông điệp mà tôi muốn gửi gắm đến các bạn trẻ thông qua bộ sách này là: "Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi, mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ". Trong cuộc sống, dù bạn làm bất cứ nghề nghiệp gì, từ thợ thuyền, buôn bán đến học ngoại ngữ, nếu gặp khó khăn mà không giữ vững tinh thần "chân cứng đá mềm" thì sẽ không bao giờ tới đích.

Tôi muốn khẳng định: “Bỏ cuộc chắc chắn là cách duy nhất để dẫn đến thất bại”. Tất cả nhân vật xuất hiện trong phim, trong sách của tôi, dù là bạn bè quốc tế hay những người dân bình dị, họ thành công đều nhờ vào một điểm - không bao giờ ngừng ước mơ và không bao giờ lùi bước trước nghịch cảnh.

- Bà nói rằng bản thân còn nhiều câu chuyện chưa viết. Vậy bà có định viết quyển sách thứ tư?

- Tôi đang viết. Nếu như các tập trước tập trung vào chiến tranh và đối ngoại, thì cuốn sách tiếp theo tôi muốn viết về mảng phim xã hội Việt Nam. Đó là câu chuyện của một thời đại rất khác với bây giờ - thời điểm Internet chưa xuất hiện và thế giới chưa kết nối siêu tốc như cách các cháu chắt của tôi đang chơi game xuyên lục địa hiện nay.

Tôi muốn mượn những bộ phim mình đã thực hiện để tái hiện lại cuộc sống của con người thời bấy giờ, họ đã sống, đã quằn quại đấu tranh và tìm thấy hạnh phúc như thế nào.

Cảm ơn bà đã dành thời gian chia sẻ!

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Trân trọng.

Nguoi phu nu doi chat tuong Phap hinh anh

Người phụ nữ đối chất tướng Pháp

0

Đọc hồi ký của vị tướng Pháp Hélie de Saint Marc, bà Xuân Phượng không đồng tình chi tiết ông nói về người Việt. Bà viết thư phản bác, lời lẽ mềm mại mà tinh thần cứng rắn, khẳng định người Việt mừng độc lập, không khóc thương khi kẻ xâm lược rút quân.

Nua trai bom giua thu phong nha van Xuan Phuong hinh anh

Nửa trái bom giữa thư phòng nhà văn Xuân Phượng

0

Trái bom bi từng phát nổ trong trận không kích 1967, suýt giết chết đồng đội của nhà văn Xuân Phượng, nay nằm lặng lẽ trên bàn làm việc như một chứng tích chiến tranh.

Đức An

Bạn có thể quan tâm