Các hệ thống tri thức bản địa yêu cầu phần lớn công việc của một người là duy trì mối quan hệ mật thiết với đất đai và mạng lưới họ hàng dày đặc, đó chính là nền tảng để duy trì trí nhớ.
Rõ ràng là không thể tích hợp toàn bộ cấu trúc ký ức bản địa vào lối sống công nghiệp hay hậu công nghiệp, nơi đề cao chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ gia đình rời rạc và sự tiếp cận hạn chế với không gian sống và làm việc. Tuy nhiên, vẫn có thể khôi phục một phần các khả năng tiến hóa tự nhiên của con người để cải thiện thực hành tri thức và ghi nhớ hiện nay. Một lộ trình khả thi có thể như sau:
1. Người học tạo bản đồ biểu tượng từ những tuyến đường họ thường đi qua, tại nơi họ đang hoặc từng sống.
2. Người học chuyển đổi thông tin muốn ghi nhớ thành các câu chuyện, rồi mã hóa các câu chuyện này vào bản đồ.
3. Người học tạo ra những cụm từ sử dụng vần điệu, lặp lại, phép lặp phụ âm đầu và ngôn ngữ cấm kỵ để hỗ trợ ghi nhớ ở các giai đoạn khác nhau.
4. Người học tạo ra vật thể và hình ảnh (hoặc vẽ hình ảnh lên vật thể) liên kết với bản đồ như là công cụ hỗ trợ ký ức.
5. Người học làm điều đó cùng người khác, những người cũng đang học cùng thông tin, để xây dựng các mối quan hệ gắn bó, nhờ đó ký ức được lưu giữ tập thể.
|
| Tri thức bản địa dựa vào đất đai, họ hàng, âm nhạc, nghệ thuật và kể chuyện để lưu giữ ký ức. Ảnh: Guardian. |
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là cách mà cảnh quan luôn thay đổi bởi các nền văn minh. Bạn có thể phát hiện ra cái cây nơi bạn lưu trữ bảng chữ cái Hy Lạp đã bị chặt, hoặc con phố nơi bạn cất giữ toàn bộ các số nguyên đã bị giải phóng mặt bằng để làm bãi đậu xe. Bạn có thể phải chuyển đến bang khác để tìm việc. Khi điều đó xảy ra, tôi thấy con người bắt đầu hiểu cảm giác bị mất đất, mất văn hóa của người bản địa, và hiểu thế nào là duy trì ký ức về cảnh quan và lối sống, những điều giờ đây chỉ còn trong hồi ức. Nó có thể đau đớn, nhưng vẫn hiệu quả hơn hầu hết các công nghệ ghi nhớ khác.
Tuy ngôn ngữ luôn được coi trọng, vai trò của nghệ thuật và âm nhạc, phương pháp ghi nhớ và kết nối giữa người với người lại bị gạt ra ngoài lề trong giáo dục hiện đại. Trong các nền văn hóa bản địa, đây là những yếu tố trung tâm của chương trình giáo dục - và nên là như vậy trong giáo dục đương đại.
Những nghiên cứu gần đây về chứng sa sút trí tuệ cho thấy trí nhớ âm nhạc và sự nhận biết địa điểm có thể được lưu giữ rất lâu, ngay cả khi các chức năng nhận thức khác đã suy giảm nghiêm trọng. Khi nhìn từ khía cạnh gene tri thức cổ xưa của con người, điều này hoàn toàn dễ hiểu.
Ngồi yên và ghi chép là việc dễ làm. Nhưng học tập sẽ hiệu quả hơn rất nhiều khi được tiếp năng lượng từ âm nhạc, nghệ thuật, kể chuyện và kỹ thuật cung điện ký ức. Từ khi còn là trẻ nhỏ cho đến lúc tuổi cao, tất cả chúng ta đều có một tiềm năng khổng lồ chưa được khai thác. Vậy chính xác ta khai phá điều đó bằng cách nào?
Đã đến lúc nâng cao việc học bằng cách sử dụng toàn bộ những gì mà gene tri thức của chúng ta có thể mang lại. Phần còn lại của chương này sẽ trình bày những phương pháp thực hành cụ thể có thể áp dụng tại trường học, đại học và trong suốt cuộc đời học tập.
Bình luận