|
| Ở nhiều nước, có quan niệm dân gian rằng có một người đàn ông bị nhốt trên mặt trăng. Ảnh minh họa: C.W. |
Trong phần lớn lịch sử, trước tàu vũ trụ, trước kính thiên văn, khi chúng ta vẫn còn chìm đắm trong tư duy ma thuật, Mặt Trăng luôn là một điều bí ẩn. Ấy nhưng, gần như không ai nghĩ rằng đó là một hành tinh có sự sống.
Chúng ta thực sự nhìn thấy gì khi ngẩng lên quan sát Mặt Trăng bằng mắt thường? Chúng ta nhận ra một tập hợp các vệt sáng và tối bất quy tắc, không hề giống rõ ràng bất kỳ vật thể quen thuộc nào. Nhưng gần như theo bản năng, đôi mắt chúng ta kết nối các vệt ấy, nhấn mạnh một số chỗ, bỏ qua những chỗ khác. Chúng ta tìm kiếm một mẫu hình và rồi tìm thấy nó.
Trong thần thoại và truyền thuyết dân gian trên khắp thế giới, nhiều hình ảnh đã được gán cho Mặt Trăng: Một người phụ nữ đang dệt vải, những rặng cây nguyệt quế, một con voi nhảy khỏi vách đá, một cô gái gùi giỏ trên lưng, một con thỏ, những bộ ruột tràn ra bề mặt Mặt Trăng sau khi bị một con chim không bay nổi cấu xé, người phụ nữ đập dập vỏ cây để làm vải. Người ở nền văn hóa này thường khó hiểu tại sao người ở nền văn hóa khác lại có thể nhìn ra những thứ kỳ dị như vậy.
Hình ảnh phổ biến nhất là "người đàn ông" trên Mặt Trăng. Tất nhiên, nó không thực sự giống một người đàn ông. Các đặc điểm của nó méo mó, vặn vẹo, trễ xệ. Có một miếng gì đó như thịt bò bao phủ mắt trái. Và cái miệng kia thể hiện cảm xúc gì? Một chữ O ngạc nhiên? Một thoáng buồn bã, thậm chí ai oán?
Hay là nỗi nhận biết u sầu về những nhọc nhằn của kiếp sống nơi Trái Đất? Chắc chắn khuôn mặt ấy quá tròn lại còn thiếu tai. Tôi đoán ông này hói đỉnh đầu. Dù vậy, mỗi khi tôi nhìn lên Mặt trăng, tôi vẫn thấy một khuôn mặt người.
Trong truyền thuyết dân gian thế giới, Mặt Trăng được mô tả như một điều gì đó gắn với đời thường. Trong thời kỳ trước Apollo, trẻ con được kể rằng Mặt Trăng làm bằng phô mai xanh (loại có mùi khó ngửi), và điều ấy khiến người ta thấy buồn cười hơn là ngưỡng mộ sự kì diệu.
Trong sách thiếu nhi và tranh biếm họa, người đàn ông trên Mặt Trăng thường chỉ được vẽ như một khuôn mặt trong một vòng tròn, không khác mấy với hình mặt cười quen thuộc với hai dấu chấm làm mắt và một đường cong làm miệng. Ông nhìn xuống nhân gian một cách hiền từ, chứng kiến những trò đùa nghịch của muông thú, trẻ con, con dao dĩa và cái thìa muỗng. [1]
Hãy cân nhắc lại hai vùng địa hình chúng ta phân biệt khi quan sát Mặt Trăng bằng mắt thường: phần trán, má và cằm sáng hơn và vùng mắt, miệng tối hơn. Qua kính thiên văn, những phần sáng hiện ra là vùng cao nguyên cổ xưa đầy hố va chạm, mà chúng ta nay biết (từ việc định tuổi bằng đồng vị phóng xạ các mẫu đá do các phi hành gia Apollo mang về) là đã tồn tại gần 4,5 tỷ năm.
Các vùng tối là những dòng dung nham bazan trẻ hơn gọi là “maria” (số nhiều của từ “mare”, đều xuất phát từ tiếng Latin nghĩa là đại dương, dù nay ta biết rằng Mặt Trăng khô khốc như sa mạc).
Các vùng maria phun trào trong vài trăm triệu năm đầu tiên của lịch sử Mặt Trăng, phần lớn do tác động tốc độ cao của các tiểu hành tinh và sao chổi khổng lồ. Mắt phải là Mare Imbrium, miếng thịt bò trễ xuống mắt trái là sự kết hợp của Mare Serenitatis và Mare Tranquilitatis (nơi Apollo 11 hạ cánh) và cái miệng mở lệch tâm là Mare Humorum. (Không hố va chạm nào có thể được thấy bằng mắt thường.)
Người đàn ông trên Mặt Trăng thực chất là bản ghi chép về những thảm họa cổ đại, phần lớn xảy ra trước khi có loài người, trước khi tồn tại loài thú có xương sống, trước khi có sinh vật đa bào và có thể thậm chí trước cả sự xuất hiện của sự sống trên Trái đất. Việc gán một khuôn mặt người cho sự hỗn loạn của vũ trụ ngẫu nhiên vốn là một thói quen đặc trưng của loài người.
Con người, giống như các loài linh trưởng khác, là những sinh vật sống bầy đàn. Chúng ta thích có bạn đồng hành. Chúng ta là động vật có vú và việc chăm sóc con cái là yếu tố thiết yếu cho sự tiếp nối nòi giống. Người mẹ mỉm cười với đứa trẻ, đứa trẻ mỉm cười đáp lại và từ đó, một mối liên kết được hình thành hoặc củng cố.
Ngay khi có thể nhìn thấy, trẻ sơ sinh đã nhận diện được khuôn mặt và hiện nay, chúng ta biết rằng kỹ năng này được lập trình sẵn trong bộ não. Vào một triệu năm trước, những đứa trẻ không nhận ra khuôn mặt, ít mỉm cười đáp lại sẽ không chiếm được cảm tình của cha mẹ và có khả năng sinh tồn thấp hơn. Ngày nay, gần như mọi đứa trẻ đều nhanh chóng nhận diện khuôn mặt người và phản ứng bằng một nụ cười ngây ngô.
[1] Trong bài đồng dao tiếng Anh nổi tiếng Hey Diddle Diddle, có hình ảnh đĩa và thìa chạy trốn dưới ánh trăng.