Thưa đại chúng, Án Ma Ni Bát Di Hồng là câu phiên âm từ tiếng Phạn, Om Mani Padme Hum. Đây là câu linh chú 6 chữ, thường gọi là Lục tự Đại minh chân ngôn. “Lục” là sáu, “tự” là chữ, “đại minh” là ánh sáng lớn. Đây là câu linh chú sáu chữ tỏa ra ánh sáng lớn của đức Quán Âm. Ai hành trì câu chú này lâu ngày sẽ đi tới chỗ định tâm.
|
| Mình đọc câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Hồng lên để nhắc mình sống với tâm bồ đề trong sáng. Ảnh: Pinterest. |
Chữ “án”, tức “om” trong tiếng Phạn, dịch theo nghĩa là quy mạng, nhưng đồng thời nó cũng là từ dẫn âm trong các bài chú. Ví dụ, “Án, bệ sát thệ”, “Án, a na lệ”, “Án, tất điện đô mạn”, “Án, chiết lệ chủ lệ”. Cũng giống như từ dẫn âm “Hò ơ...” trong các câu hò của Việt Nam mình vậy. “Ma ni” là viên ngọc quý, mà ngọc này có đủ khả năng lóng mọi cặn bã, gọi là ly cấu. Ví dụ, một ly nước đang đục, mình thả “ma ni” vô là nó lắng lại liền. Vì vậy, mình cũng có câu “Nam mô Ly cấu Địa Bồ Tát”. “Ma ni” là viên ngọc tượng trưng cho tâm, tâm bồ đề của mình. Còn “bát di” (hay “bát mi”) có nghĩa là hoa sen. Hoa sen tượng trưng cho thức, tức là tâm thức của mình. “Hồng” có nghĩa là gì? Là lòng từ rộng lớn, và cũng có nghĩa là một sự thành tựu. Khi mình chứng ngộ được tâm bồ đề trong sáng, từ đó lìa được tất cả mọi ly cấu thì đó là Án Ma Ni Bát Di Hồng. Mình đọc câu thần chú này lên để nhắc mình sống với tâm bồ đề trong sáng đó. Đọc theo tiếng Phạn là Om Mani Padme Hum.
Một ông thầy đi ngang qua một căn nhà. Thấy nhà này tỏa ra ánh sáng, ông thầy nghĩ rằng trong nhà chắc phải có một cao nhân đang tu hành. Ai ngờ khi bước vô nhà, ổng chỉ thấy một bà già ngồi lần chuỗi và tụng “Án Ma Ni Bát Di Beo”. Nghe bà cụ tụng vậy, ông thầy nói: “Trời ơi, bà tụng trật rồi, phải là Án Ma Ni Bát Di Hồng”. Nghe ông thầy nói vậy, bà già rất đau khổ, tu mấy chục năm, niệm mấy chục năm mà ai ngờ mình niệm trật. Bà cụ bắt đầu niệm đúng trở lại. Khi đi lên núi và nhìn lại về phía căn nhà thì ông thầy thấy căn nhà đó đã mất đi ánh hào quang. Ông thầy nhận ra cái sai của mình: “Niệm đúng hay sai không quan trọng, quan trọng là tâm thành. Mấy chục năm bà cụ thành tâm niệm, nên tụng ‘beo’ mà vẫn phát ra ánh sáng, mình ở đâu chen vô làm cho bả động tâm”. Nghĩ vậy, ông thầy quay trở xuống, nói với bà cụ: “Tôi xin lỗi bà, hồi nãy tôi nói đùa đó. Bà tụng ‘beo’ là đúng rồi. Thôi bà cứ tiếp tục tụng ‘beo’ đi”.
|
| Sách Lá hoa trên đường về. Ảnh: Huỳnh Quỳnh. |
Pháp Hòa kể câu chuyện vui này cũng để giải đáp thắc mắc cho quý vị nào muốn tìm hiểu các từ phiên âm tiếng Phạn. “Án lam” hay “úm lam” cũng giống nhau vì đều là chữ phiên âm từ tiếng Phạn “um ram”. Chữ “svaha” trong tiếng Phạn có khi đọc là “tóa ha”, “xóa ha” hay “ta bà ha” hay đọc là “té bà ho” cũng không sao.
Quý vị biết bài chú Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Chân Ngôn không? Bài chú đó hồi xưa người ta không đọc theo cách mình tụng bây giờ, mà tụng theo chữ phiên âm của người Hoa. Bây giờ mình tụng: “Án, nại mo bo cót ngỏa đế, a ba na mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất để, thật chấp đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế...” trong mười bài chú thuộc kinh Lăng Nghiêm.
Hay trong câu “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni”, mình đọc là “đà la ni”, nhưng có chỗ tụng là “đà ra ni”. Nhiều người sẽ thắc mắc “đà ra ni” đúng hay “đà la ni” đúng. Đó là từ phiên âm nên nếu có thể thì mình chọn “đà ra ni” vì nó gần với chữ Phạn (dharani) hơn. Nhưng nếu mình đọc “đà la ni” cũng được, không sao hết.
Bình luận