Cục Dự trữ Liên bang Mỹ suýt chút nữa tan rã, 48 tiếng kinh hoàng của đồng đôla
Kể từ khi chế độ Bản vị Vàng của đồng bảng Anh sụp đổ vào tháng 9 năm 1931, thế giới bắt đầu lo lắng rằng đồng đôla cũng sẽ bị ép thoát ly khỏi hệ thống Bản vị Vàng. Đồng bảng Anh giảm giá mạnh khiến lượng dự trữ ngoại hối 350 triệu bảng của Ngân hàng Trung ương Pháp ngay lập tức mất đi một con số kinh hoàng là 125 triệu bảng, gấp 7 lần lượng vốn tự có! Với tổn thất như vậy, nếu là một ngân hàng thương mại bình thường thì hẳn đã phá sản tới mấy lần rồi.
Ngân hàng Trung ương Hà Lan thì mất hết lượng vốn tự có, còn các quốc gia như Thụy Điển và Bỉ trước đó bị dụ dỗ bởi quái chiêu “biến nước thành dầu” của Norman nên kho tiền tệ dự trữ dưới dạng đồng bảng Anh của họ giờ đang rơi vào thảm cảnh.
Norman, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh, người quyền lực nhất châu Âu, từng khoe khoang với các ngân hàng trung ương châu Âu rằng đồng bảng Anh “có giá trị ngang vàng”, dụ dỗ mọi người rằng nếu tích trữ vàng thì chẳng thà tích trữ đồng bảng Anh còn hơn, lần này thì đúng là ông ta chỉ còn nước chui đầu xuống đất!
Sau khi trải qua một phen kinh hãi, những người châu Âu giờ đều như “chim sợ cành cong”, nghĩ rằng đồng bảng Anh không đáng tin cậy, đồng đôla cũng chẳng tốt đẹp gì, chỉ khi cầm trên tay đống vàng nặng trĩu thì mới thực sự cảm thấy yên tâm.
Một ngày sau khi đồng bảng Anh tuyên bố rời bỏ chế độ Bản vị Vàng, Ngân hàng Trung ương Pháp đã ngay lập tức “hỏi khéo” Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và đề nghị chuyển đổi một phần dự trữ đôla của mình thành vàng. Người Mỹ lập tức trả lời: “Không vấn đề gì, chúng tôi có rất nhiều vàng”.
Kết quả là người Pháp ngay lập tức chuyển 100 triệu đôla dự trữ thành vàng. Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ thấy người Pháp khơi mào thành công cũng yêu cầu đổi 200 triệu đôla thành vàng, người Mỹ vẫn lập tức đáp ứng. Ngay sau đó, Ngân hàng Trung ương Bỉ đổi 130 triệu đôla, Ngân hàng Trung ương Hà Lan đổi 77 triệu đôla, ngày càng có nhiều nước kêu khóc đòi đổi vàng của Mỹ. Chỉ trong 5 tuần, người châu Âu đã đổi 750 triệu đôla dự trữ để lấy vàng.
Lúc này, người Mỹ mới cảm thấy có điều gì đó không ổn.
|
| Một ứng xử nhỏ có thể đẩy một loại tiền tệ đứng bên bờ vực khủng hoảng. Ảnh: The News International. |
Việc một lượng vàng lớn như vậy bị rút khỏi hệ thống tiền tệ đã làm suy yếu nghiêm trọng cơ sở tín dụng của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Nếu không có tài sản đảm bảo tín dụng, một số lượng lớn các khoản vay phải được thu hồi ngay lập tức. Trong khi đó mọi người đều đang thiếu tiền và bên cho vay thì chẳng có khả năng trả nợ, họ buộc phải bán tháo tài sản, nhưng nếu tất cả cùng nhau bán tháo thì chẳng ai có thể thoát nổi.
Kết quả là chỉ trong vòng 5 tuần sau khi người châu Âu đổi đôla lấy vàng, 522 ngân hàng của Mỹ đã phá sản trên diện rộng! Vào cuối năm 1931, số lượng ngân hàng phải đóng cửa đã lên tới con số đáng kinh ngạc là 2.294! Một phần mười trong số 20.000 ngân hàng ở Mỹ đã phá sản, đồng thời 1,7 tỷ đôla tiền tiết kiệm của những người dân thường cũng đã bốc hơi.
Đối mặt với làn sóng phá sản ngân hàng chưa từng có, những người dân gửi tiền tiết kiệm ở Mỹ đột nhiên nhận ra rằng tài sản và cuộc sống của họ có nguy cơ bị hủy hoại hoàn toàn bất cứ lúc nào. Họ ngay lập tức đổ xô đến nhiều ngân hàng khác nhau để rút tiền gửi. Chỉ trong vòng sáu tháng, 500 triệu đôla tiền mặt đã bay thẳng từ ngân hàng về két sắt trong nhà của hàng nghìn hộ gia đình.
Cuộc khủng hoảng này đã đẩy hệ thống ngân hàng đến bờ vực diệt vong; so với năm 1931, tín dụng ngân hàng ở Mỹ đã giảm đi 20%. Việc tín dụng tiền tệ bị thu hẹp mạnh đã dẫn đến giá cả giảm xuống, nợ tăng lên, doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp ngày càng trầm trọng, tiêu dùng ế ẩm, nợ khó đòi gia tăng, khiến nền tài chính Mỹ rơi vào vòng tuần hoàn ác tính.
Bong bóng nợ đôla bắt nguồn từ Mỹ, sau cú nổ đầu tiên ở Đức vào năm 1928, tác động cộng hưởng của cuộc khủng hoảng niềm tin này đã gây ra sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1929. Sau khi cơn hoảng loạn tạm thời lắng dịu trong hơn một năm, Áo và Đức lại trải qua một đợt sụp đổ hệ thống ngân hàng triệt để hơn. Sức sát thương của vụ nổ thứ hai trong cuộc khủng hoảng tài chính vượt xa so với vụ nổ đầu tiên. Nó thổi bay “con đê” Bản vị Vàng của Anh, rồi lại vượt Đại Tây Dương, càn quét hệ thống ngân hàng Mỹ từ năm 1931 đến năm 1932.
Đến tháng 2 năm 1933, đám mây đen của cuộc khủng hoảng đôla bắt đầu tích tụ trên bầu trời New York. Trung tâm của cơn bão này là cốt lõi của hệ thống đôla - Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York!
Kể từ cuối tháng 2, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đã mất một lượng vàng trị giá 250 triệu đôla chỉ trong vòng hai tuần, chiếm 1/4 tổng dự trữ. Mặc dù với tư cách là một chủ thể chính thì Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thừa đủ lượng vàng dự trữ, nhưng do nguồn vàng này lại được phân bố trong tay của 12 ngân hàng Dự trữ Liên bang mang tính độc lập, và các ngân hàng này cũng đang phải đối mặt với một làn sóng đột biến rút tiền gửi trong khu vực quản hạt tương ứng, do vậy, từ lâu họ đã rơi vào tâm thế lo sợ.
Bên cạnh đó, không chỉ trụ sở của Cục Dự trữ Liên bang ở Washington phàn nàn mà các Ngân hàng Dự trữ Liên bang khác cũng hết sức bất bình với tác phong hành xử “bá đạo” suốt thời gian dài của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York. Thế nên vào thời điểm khủng hoảng, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đang ở trong tình trạng khốn cùng, thân cô thế cô.
Chẳng những không giảm bớt, làn sóng phá sản ngân hàng còn ngày càng nghiêm trọng.
Đến ngày 2 tháng 3, tổng lượng dự trữ vàng của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đã giảm xuống dưới mức giới hạn thấp hơn theo quy định của pháp luật, tức là 40% dự trữ phát hành tiền tệ.
Trong 48 giờ tiếp theo, cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng xấu đi theo đơn vị giờ. Ủy ban Dự trữ Liên bang ở Washington đã bắt đầu cảm nhận rõ ràng rằng toàn bộ hệ thống ngân hàng trung ương của Mỹ đang đứng trước nguy cơ tan rã!
Sau khi Strong qua đời vào năm 1928, Harrison kế thừa ngai vị của ông trong Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York. Nhưng ông thực sự quá đen đủi; chưa kịp một lần được tận hưởng sự hãnh diện vì được thăng quan tiến chức ông đã phải bận rộn bù cổ trên tuyến đầu để “chữa cháy cứu nạn”. Sự lựa chọn cuối cùng để cứu lấy Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York và chính bản thân ông là đóng cửa tất cả các ngân hàng trong nước! Nhưng một động thái lớn như vậy, xét cho cùng, là một tình huống chưa từng xảy ra kể từ khi thành lập nước Mỹ.