Một người đàn ông lớn tuổi tôi từng gặp trong một bữa tiệc đã kể với tôi, vẻ thích thú, rằng khi còn nhỏ, mẹ ông từng đung đưa ông qua ngọn lửa mà bà cố tình nhóm lên, để vừa hong khô quần cho ông vừa trị cái tật tè dầm. Ông nói: “Mẹ tôi là người tuyệt vời nhất mà cô có thể gặp, nhưng hồi đó trong nhà tôi mọi chuyện vẫn diễn ra như vậy.”
Sự thiếu đồng cảm với nỗi đau tuổi thơ của chính mình có thể dẫn đến sự thiếu nhạy cảm đáng kinh ngạc trước nỗi đau của những đứa trẻ khác. Khi những gì từng xảy ra với tôi được cho là “vì lợi ích của tôi”, thì tôi sẽ được kỳ vọng phải chấp nhận cách đối xử ấy như một phần thiết yếu của cuộc sống và không được phép chất vấn điều gì.
Do đó, loại thái độ vô cảm này bắt nguồn từ chính những tổn thương mà một người từng phải chịu khi còn nhỏ. Họ có thể nhớ được những gì đã xảy ra, nhưng trong hầu hết các trường hợp, cảm xúc gắn với trải nghiệm bị đánh đập và bị làm nhục ấy đã bị đè nén hoàn toàn.
Đây chính là điểm khác biệt giữa việc đối xử tàn nhẫn với một người trưởng thành và với một đứa trẻ. Bản ngã của trẻ vẫn chưa phát triển đủ mức để có thể lưu giữ ký ức về sự việc ấy hoặc về những cảm xúc mà nó gợi lên.
Ký ức rằng bạn từng bị đánh đập - và rằng điều đó, như cha mẹ bạn nói, là vì lợi ích của chính bạn - có thể vẫn còn tồn tại (dù không phải lúc nào cũng vậy), nhưng nỗi đau do sự ngược đãi ấy gây ra sẽ bị đẩy vào vô thức và sau này sẽ cản trở khả năng đồng cảm của bạn với người khác. Đó là lý do vì sao những đứa trẻ bị bạo hành lại lớn lên thành những người cha, người mẹ đánh đập chính con cái của mình.
Từ chính hàng ngũ đó, người ta tuyển chọn ra những đao phủ tận tụy, những quản giáo trại tập trung, cai ngục và kẻ tra tấn đáng tin cậy nhất. Họ đánh đập, hành hạ và tra tấn bởi một sự cưỡng bức nội tại thôi thúc họ phải lặp lại lịch sử của chính mình - và họ có thể làm điều đó mà không hề cảm thấy chút thương xót nào cho nạn nhân, bởi họ đã hoàn toàn đồng nhất với phần hung hăng trong nội tâm mình.
Những con người ấy từng bị đánh đập và bị làm nhục từ khi còn quá nhỏ, đến mức họ với tư cách một đứa trẻ bất lực, bị hành hạ. Để có thể làm được điều đó, họ cần đến sự giúp đỡ của một người trưởng thành thấu hiểu và nâng đỡ - mà người đó thì không hề hiện diện. Chỉ khi có một người như thế, đứa trẻ mới có thể nhìn nhận chính mình đúng như thực tại lúc ấy - yếu đuối, bất lực, bị chà đạp và bị đánh đập - và nhờ đó có thể tích hợp phần ấy vào bản ngã của mình.
|
| Dùng đòn roi để dạy con diễn ra ở khắp nơi trên thế giới qua nhiều thế hệ. Ảnh: The Guardian. |
Về mặt lý thuyết, một đứa trẻ bị cha đánh đập có thể òa khóc trong vòng tay của một người cô tốt bụng và kể cho người cô ấy nghe điều đã xảy ra; người cô ấy sẽ không tìm cách giảm nhẹ nỗi đau của đứa trẻ hay biện hộ cho hành vi của người cha, mà sẽ nhìn nhận toàn bộ trải nghiệm ấy với sự nghiêm túc xứng đáng. Nhưng tình huống may mắn như thế là điều rất hiếm hoi.
Người vợ của một người cha bạo hành con thường chia sẻ cùng quan điểm với chồng về cách nuôi dạy con, hoặc chính bà ấy cũng là nạn nhân của người chồng - trong cả hai trường hợp, bà hiếm khi là người đứng về phía đứa trẻ. Vì vậy, một “người cô” như thế quả là trường hợp hiếm có, bởi một đứa trẻ bị hành hạ thường không có đủ tự do nội tâm để tìm đến và bám víu vào người đó.
Một đứa trẻ có khả năng sẽ ưu tiên chọn con đường cô lập nội tâm và phân ly cảm xúc còn hơn là đi “mách lẻo” với người ngoài về cha hay mẹ mình. Các nhà trị liệu tâm lý biết rõ phải mất bao nhiêu năm - có khi ba mươi, bốn mươi, thậm chí năm mươi năm - thì nỗi oán hận bị dồn nén của một đứa trẻ mới có thể được diễn đạt và sống lại.
Do đó, rất có thể rằng hoàn cảnh của một đứa trẻ bị ngược đãi thậm chí còn tồi tệ hơn và gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn cho xã hội, so với hoàn cảnh của một người trưởng thành trong trại tập trung Đức Quốc xã.
Người từng là tù nhân trại tập trung đôi khi có thể thấy mình rơi vào tình trạng không sao truyền đạt trọn vẹn được nỗi kinh hoàng mình từng trải qua, còn người khác thì tiếp cận và giao tiếp với anh ta bằng thái độ thiếu thấu cảm, lãnh đạm, thờ ơ, thậm chí hoài nghi.
Nhưng, trừ vài ngoại lệ, bản thân anh ta sẽ không nghi ngờ tính bi kịch trong những trải nghiệm ấy. Anh ta sẽ không bao giờ cố gắng tự thuyết phục rằng sự tàn bạo mà anh từng hứng chịu là vì lợi ích của chính mình, hay rằng sự phi lý của trại tập trung là một biện pháp sư phạm cần thiết. Anh ta thường sẽ không tìm cách thấu hiểu động cơ của những kẻ đã ngược đãi mình. Anh ta sẽ tìm đến những người có trải nghiệm tương tự để cùng họ chia sẻ cảm giác phẫn nộ, căm giận và tuyệt vọng trước những điều tàn ác mà bản thân từng phải gánh chịu.
Đứa trẻ bị ngược đãi thì không có bất kỳ lựa chọn nào như vậy. Như tôi đã cố gắng chỉ ra trong ví dụ về Christiane F., cô bé đơn độc với nỗi đau của mình - không chỉ trong gia đình mà còn ngay trong chính nội tâm. Và bởi vì không thể chia sẻ nỗi đau ấy với bất kỳ ai, cô cũng không thể tạo ra trong tâm hồn mình một chốn nương thân để “khóc cho thỏa nỗi lòng”.
Ở đó không hề có vòng tay của một “người cô tốt bụng”; “giữ vững tinh thần và hãy dũng cảm” là phương châm sống duy nhất. Tình trạng không có khả năng tự vệ cùng sự bất lực không tìm được nơi trú ngụ trong bản ngã của đứa trẻ - người mà sau này, khi đồng hóa với kẻ gây hại, sẽ đi đàn áp những phẩm chất ấy ở bất kỳ nơi nào chúng xuất hiện.