Phần của mắt có nhiều tế bào cảm quang nhất, mang lại khả năng nhìn, được gọi là fovea (bắt nguồn từ tiếng Latin nghĩa là hố cạn, hố thị giác là một vùng trũng nhẹ). Thật thú vị khi hầu hết chúng ta chưa bao giờ nghe nói đến bộ phận này, mặc cho tầm quan trọng của nó.
Để giữ cho mọi thứ hoạt động trơn tru (theo đúng nghĩa đen), chúng ta liên tục sản xuất nước mắt. Nước mắt không chỉ giúp mí mắt chuyển động dễ dàng mà còn loại bỏ những điểm không hoàn hảo nhỏ trên bề mặt nhãn cầu, giúp tầm nhìn được tập trung. Chúng cũng chứa các hóa chất kháng khuẩn, giúp loại bỏ thành công hầu hết mầm bệnh.
Nước mắt có ba loại: cơ bản, phản xạ và cảm xúc. Nước mắt cơ bản giữ chức năng bôi trơn. Nước mắt phản xạ chảy ra khi mắt bị kích thích bởi khói, thái hành hay những thứ tương tự. Và nước mắt cảm xúc có mục đích đúng như tên gọi của nó, nhưng cũng rất đặc biệt. Con người là động vật duy nhất khóc do cảm xúc, ít nhất theo những gì chúng ta đã biết. Tại sao chúng ta làm như vậy là bí ẩn cuộc sống khác. Chúng ta không nhận được lợi ích sinh lý nào khi chảy nước mắt.
Một điều kỳ lạ là hành động này biểu thị nỗi buồn sâu sắc, nhưng cũng có khi được kích hoạt bởi niềm vui tột độ, sự sung sướng thầm lặng, niềm tự hào mãnh liệt hơn gần như bất kỳ trạng thái cảm xúc mạnh mẽ nào khác.
Việc tiết nước mắt liên quan đến một số tuyến nhỏ xung quanh mắt, cụ thể là các tuyến Krause, Wolfring, Moll và Zeis, cũng như gần bốn chục tuyến Meibomian ở mí mắt. Tổng cộng bạn sản xuất khoảng 150-300 ml nước mắt mỗi ngày. Nước mắt chảy qua các lỗ được gọi là puncta trên mấu thịt nhỏ (được gọi là papilla lacrimalis) ở góc của mỗi mắt, bên cạnh mũi. Khi bạn khóc do cảm xúc, puncta không thể đẩy chất lỏng đủ nhanh, vì vậy nước mắt tràn ra và chảy xuống má bạn.
|
| Ánh mắt là một ngôn ngữ giàu tính biểu cảm. Ảnh: Linkedln. |
Mống mắt là thứ mang lại cho mắt màu sắc của nó. Nó bao gồm một cặp cơ điều chỉnh độ mở của đồng tử, giống như khẩu độ trên máy ảnh, cho phép ánh sáng thêm vào hoặc tránh ánh sáng khi cần thiết. Nhìn chung, mống mắt giống như một chiếc nhẫn gọn gàng, bao quanh đồng tử, nhưng khi kiểm tra kỹ hơn, trên thực tế, đó là “một đống hỗn loạn các đốm, vạch và đường kẻ”, theo lời của Daniel McNeill, và hình mẫu này đặc thù cho mỗi người, cũng là lý do tại sao các thiết bị nhận diện mống mắt ngày càng được sử dụng nhiều để nhận dạng tại các điểm kiểm tra an ninh.
Phần lòng trắng của mắt được chính thức gọi là sclera (tiếng Hy Lạp có nghĩa là cứng). Lòng trắng của chúng ta là duy nhất trong số các loài linh trưởng. Chúng cho phép chúng ta theo dõi ánh mắt của người khác với độ chính xác đáng kể, cũng như để giao tiếp trong im lặng. Bạn chỉ cần di chuyển nhãn cầu một chút để thu hút ánh nhìn của người khác, ví dụ như một người nào đó ở bàn bên cạnh trong một nhà hàng.
Mắt chúng ta chứa hai loại tế bào cảm quang: hình que, giúp chúng ta nhìn trong điều kiện mờ nhưng không cung cấp màu sắc; và hình nón, hoạt động khi đủ ánh sáng và chia thế giới thành ba màu: xanh dương, xanh lục và đỏ. Những người “mù màu” thường thiếu một trong ba loại tế bào nón, vì vậy không thể nhìn thấy tất cả màu mà chỉ thấy một vài trong số chúng.
Những người không có tế bào nón nào và thực sự bị mù màu, được gọi là achromatopes. Vấn đề chính của họ không nằm ở việc thế giới của họ xanh xao, mà ở việc họ thực sự phải vật lộn để đối phó ánh sáng mạnh, và có thể bị mù do ánh sáng ban ngày. Bởi vì chúng ta đã từng sống về đêm, tổ tiên của chúng ta đã từ bỏ một số sắc thái màu sắc - hy sinh tế bào nón và thay thế bằng tế bào hình que - để có thị lực ban đêm tốt hơn.
Rất lâu sau, loài linh trưởng đã phát triển lại khả năng nhìn thấy mày đỏ và cam, để xác định quả chín tốt hơn, nhưng chúng ta vẫn chỉ có ba loại thụ thể màu so với bốn loại ở chim, cá và bò sát. Một sự thật khiêm nhường, nhưng hầu hết sinh vật khác đều sống trong một thế giới rực rỡ sắc màu hơn chúng ta.
Mặt khác, chúng ta sử dụng khá tốt những gì chúng ta có. Mắt người có thể phân biệt đâu đó giữa 2-7,5 triệu màu, theo nhiều tính toán khác nhau. Ngay cả ở quãng dưới của ước tính, con số cũng không hề nhỏ.