Sáng tác hội họa không có quy luật cố định bất biến nào, tất cả các quy luật đều có thể thay đổi. Nếu nhất định phải theo đuổi một quy luật cố định thì đó là “không theo quy luật nào”. Ông nói: “Chí nhân vô pháp, không phải là không có pháp mà là lấy vô pháp làm pháp, đó mới là pháp cao nhất”.
Suy cho cùng, hội họa phải là thể hiện của chính mình chứ không phải thể hiện của người xưa. Thạch Đào nói: “Họa gia nên nghe theo trái tim mình”. Thạch Đào đã tổng kết 50 năm kinh nghiệm sáng tạo hội họa và cô đọng nó thành một điểm, đó là sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể, sự hòa quyện giữa sự vật và bản thân họa gia.
|
| Tranh của Thạch Đào. Nguồn ảnh: Bảo tàng Metropolitan. |
Ông nói: “Ta của 50 năm trước, [vẽ] chưa thoát ra khỏi hình dáng núi sông, cũng không phải là ta hủy hoại núi sông mà khiến núi sông trở nên ích kỷ. Nay núi sông nhờ ta nói thay núi sông, núi sông hòa vào cùng ta, ta hòa vào cùng núi sông. Tìm kiếm tất cả các đỉnh núi kỳ lạ chỉ để tạo bản nháp. Núi sông gặp gỡ và giao tiếp với tâm hồn ta, hình dáng biến hóa dưới bút mực của ta, vậy nên tất cả cuối cùng đều quy về Đại Địch!”
Thạch Đào 50 năm trước còn chưa “thoát thai khỏi núi sông”, tức là chỉ có thể đạt tới trạng thái giống về hình thức; Thạch Đào 50 năm sau đã bước vào giai đoạn “thoát thai khỏi núi sông”, “tìm kiếm tất cả các đỉnh núi kỳ lạ để tạo bản phác thảo”, nghĩa là, dung hòa các đỉnh núi kỳ lạ với cảm xúc trong lòng, đạt đến trạng thái vật và người hòa vào làm một, thống nhất giữa chủ thể và khách thể. Nói cách khác, đó là mang núi sông xuân hạ thu đông với những cung bậc cảm xúc mừng, giận, buồn hòa quyện thành một thể thống nhất để tạo thành ý tưởng, hình ảnh thẩm mỹ trong lòng.
So sánh toàn diện giữa “tứ Vương” và “tứ tăng”, xét từ góc độ quan điểm nghệ thuật thì “tứ tăng” vượt trội hơn; xét về thành tựu nghệ thuật thì “tứ tăng” cũng vượt trội hơn; nếu xét về tầm ảnh hưởng xã hội thời bấy giờ thì “tứ Vương” lại vượt trội hơn.
Mặc dù tác phẩm mỹ thuật của “tứ Vương” không xuất sắc hơn “tứ tăng”, tài trí của “tứ Vương” không cao siêu hơn “tứ tăng”, quan điểm nghệ thuật của “tứ Vương” không có nhiều chân lý hơn “tứ tăng”, nhưng có hai lý do chính khiến “tứ Vương” trở thành “chính tông” của hội họa thời bấy giờ: một là tính kế thừa, hai là chính trị.
Phỏng cổ của “tứ Vương” trước hết là bắt chước Đổng Kỳ Xương thời Minh. Người đứng đầu “tứ Vương”, Vương Thời Mẫn, là “đệ tử chân truyền” của Đổng Kỳ Xương. Ba người còn lại, Vương Giám là cháu họ của Vương Thời Mẫn, Vương Nguyên Kỳ là cháu nội của Vương Thời Mẫn, Vương Huy là học trò của Vương Thời Mẫn và Vương Giám. Như vậy, “tứ Vương” đều có thể coi là học hỏi kế thừa Đổng Kỳ Xương. Nếu Đổng Kỳ Xương là “lãnh tụ vườn tranh”, vậy thì “tứ Vương” đương nhiên cũng là “lãnh tụ vườn tranh” rồi.
Phong cách mỹ thuật của “tứ Vương” không xuất phát từ tư tưởng của bản thân mà tuân theo quy tắc kỹ pháp, ôn nhuận nhẹ nhàng, rất phù hợp với nhu cầu nghệ thuật của giai cấp thống trị. Khang Hi nói: “Trẫm lâm ngự đã nhiều năm, người Hán luôn khó cai trị”. Từ đây có thể thấy, mục đích duy nhất của giai cấp thống trị là đáp ứng nhu cầu cai trị, còn về trình độ mỹ thuật cao thấp, đó chỉ là cái thứ yếu. “Nhất đại chính tông tài năng ít”, chỉ có “tài năng ít” thì mới là “chính tông”.
Bình luận