Sự trỗi dậy của đại doanh nghiệp ở Mỹ (1862-1913)
Trong những năm 1880, Richard Sears là nhân viên nhà ga của tuyến đường sắt Minneapolis và St. Louis tại một thị trấn nhỏ ở Minnesota. Vì không có nhiều việc để làm, ông bèn rao bán củi và than cho nông dân địa phương. Khi một thợ kim hoàn địa phương từ chối mua một lô hàng đồng hồ được gửi bởi một công ty ở Chicago, thì Sears, chàng trai trẻ máu mê kinh doanh, đã quyết định dấn bước vào, mua chúng và bán lại cho các đại lý khác dọc tuyến đường.
Năm 1887, ông đưa Công ty Đồng hồ R. W. Sears vừa tròn một năm tuổi đến Chicago, liên kết với một thợ đồng hồ ở Indiana, Alvah Roebuck, và bắt đầu việc kinh doanh theo hình thức đặt hàng qua thư, chuyên về đồng hồ và trang sức.
Giống như đối thủ ở Chicago là Montgomery Ward, cuốn catalog Roebuck của Sears đã cho người dân nông thôn Mỹ một phương án để tránh các nhà bán lẻ địa phương đắt đỏ. Đến năm 1895, quyển catalog của Sears đã dày đến 532 trang, cung cấp mọi thứ từ súng ống cho đến bếp lò.
Sears là một nhà viết quảng cáo thiên tài, nhưng công ty sẽ không bao giờ phát triển lớn mạnh đến như vậy nếu không có tài năng tổ chức của Julius Rosenwald, người đã trở thành đối tác của ông vào năm 1901 (Roebuck đã bán cổ phần vào năm 1894 với giá 25.000 đô-la). Là một trong những nhà quản lý chuyên nghiệp thuộc thế hệ mới, Rosenwald đã thắt chặt việc quản trị công ty, cắt bỏ một số lời chào hàng kém trung thực của người sáng lập và thành lập một “phòng thí nghiệm” để kiểm tra sản phẩm xem chúng có hoạt động tối ưu hay không.
|
| Một trong những "gã khổng lồ" đời đầu của hệ thống doanh nghiệp Mỹ. Ảnh: Times Ticking. |
Năm 1906, cả hai đưa công ty lên sàn chứng khoán để huy động thêm tiền. Trong cùng năm đó, công ty đã mở một nhà máy đặt hàng qua thư trị giá 5 triệu đô-la tại Chicago, toà nhà kinh doanh lớn nhất thế giới. Nhằm giải quyết vấn đề khối lượng đơn hàng khổng lồ, Rosenwald đã kiến tạo một hệ thống điều phối cơ khí, một loại “dây chuyền lắp ráp” tối tân dành riêng cho các đơn hàng.
Trong cuốn Catalog của mình, Sears tự hào phô trương: “Hàng dặm đường ray trải dài xuyên suốt và bao quanh toà nhà này để tiếp nhận và luân chuyển hàng hoá. Từ thang máy nâng hàng, băng chuyền cơ khí, hệ thống xích tải liên hoàn cho đến vỉa hè di động, máng trượt trọng lực và hệ thống ống khí nén, mọi thiết bị cơ khí tân tiến nhất đều được huy động để tối ưu hoá sức lao động và tạo nên sự hiệp đồng tuyệt đối trong Đại công trình của chúng tôi”.
Một trong những người đầu tiên đến thăm kỳ quan công nghiệp này hình như là Henry Ford. Năm 1916, Rosenwald đã bổ sung một cải tiến khác - một quỹ lương hưu cho nhân viên, trong đó khoản đóng góp của công ty được gắn với lợi nhuận của nó và phần lớn quỹ được đầu tư vào cổ phiếu của Sears.
Sự tăng trưởng phi thường của công ty kinh doanh của Richard Sears từ một sở thích cá nhân thành một tập đoàn hiện đại dễ nhận diện, hoàn chỉnh với những cổ đông, các đơn vị điều hành riêng biệt, một mạng lưới các nhà cung cấp rộng khắp quốc gia, và các nhà quản lý chuyên nghiệp hưởng lương (chưa kể các quy trình quản lý rồi sẽ được các ngành công nghiệp khác “lấy làm tiêu chuẩn”), cho ta một ý tưởng đại lược về cuộc cách mạng diễn ra ở Mỹ vào cuối thế kỷ 19 là như thế nào.
Đó không chỉ là vấn đề tận dụng đường sắt. Một công ty có cấu trúc như Sears, Roebuck vào năm 1916, với hàng nghìn nhân viên, người hưu trí, và cổ đông, đã không hề tồn tại vào năm 1840 - ngay cả trong tầm nhìn huyễn hoặc nhất của một nhà tương lai học nào đó.
Lúc bấy giờ, phần lớn hoạt động kinh tế được thực hiện thông qua các doanh nghiệp một đơn vị, được điều hành và sở hữu bởi các thương nhân độc lập, những người quen thuộc hơn với các phương pháp làm ăn của Thương gia xứ Prato hơn là của Henry Ford.
Khi John Jacob Astor tạ thế năm 1848, ông là người giàu nhất đất nước, để lại một gia tài trị giá khoảng 20 triệu đô-la. Nhưng ngay cả ở đỉnh cao sự nghiệp kinh doanh, khi điều hành Công ty Lông thú Mỹ, ông chưa bao giờ thuê quá một nhúm người, người quan trọng nhất trong số đó lại là con trai ông. “Đại bản doanh” của ông chỉ bao gồm một vài thư ký làm việc trong một căn phòng có kích thuớc bằng một phòng khách sạn.
Năm 1840, giới kinh doanh đã kỳ vọng rằng công việc phối hợp các hoạt động của họ với những doanh nhân khác trên một vùng rộng lớn như đất Mỹ sẽ do thị trường đảm nhiệm. Không ai từng nghĩ về một tổ chức khổng lồ duy nhất có thể điều phối, chẳng hạn, nhu cầu về đồ lót phụ nữ ở Oregon với việc sản xuất bông ở New England. Tất nhiên, hầu hết mọi người trong suốt giai đoạn này vẫn tiếp tục làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân nhỏ (như trang trại).
Và cũng có một số ngành công nghiệp, như chăm sóc sức khoẻ, vẫn đặc biệt kháng cự lại nguyên tắc về hiệu suất kinh tế theo quy mô. Nhưng đến Thế Chiến I, tập đoàn khổng lồ đã trở thành thể chế kinh doanh thống trị ở Mỹ: tiêu chuẩn vàng theo đó tất cả các doanh nghiệp khác được đánh giá. Nó cũng đã giúp đưa Mỹ lên vị trí hàng đầu trên đấu trường kinh tế.
Năm 1851, tại Đại Triển lãm của Nữ vương Victoria, Mỹ đã không lấp đầy được không gian được phân bổ cho nó và vị nữ vương trẻ bấy giờ đã không lấy làm ấn tượng với “các phát minh rất kỳ cục của họ”. Đến năm 1913, Mỹ sản xuất 36% tổng sản lượng công nghiệp của thế giới so với 16% của Đức và 14% của Anh.
Những gã khổng lồ thoát thai trong giai đoạn này đã giúp kiến tạo nước Mỹ hiện đại. Chính công việc mà chúng tạo ra đã thu hút mọi người từ khắp nơi trên thế giới tìm đến các thành phố lớn của Mỹ; chính sự lạm dụng của họ đã thúc đẩy sự hình thành các công đoàn và luật chống độc quyền; chính sự thờ ơ của chúng với môi trường đã khiến cho ánh mặt trời hầu như không thể xuyên qua bầu không khí khói bụi của Pittsburgh và Chicago; và chính khả năng tạo ra của cải của chúng đã đặt ra những câu hỏi về bất bình đẳng và chế độ nhân tài.
Những nhà tư bản lũng đoạn đã khơi dậy sự kinh ngạc và ghê tởm ở mức độ ngang nhau vì “sự tiêu dùng phô trương” của họ (chữ mà Thorstein Veblen nghĩ ra đầu tiên để miêu tả thói xa hoa của họ), dưới hình thức những biệt thự, tiệc tùng và những bộ sưu tập nghệ thuật. Ngay cả Andrew Carnrgie bủn xỉn, người có những bài viết về The Advantage of Poverty (Lợi thế của nghèo), cũng sở hữu một lâu đài ở Scotland, Skibo, với tám mươi hai nhân viên phục vụ và một biệt thự ở New York với 64 phòng.
Bình luận