Văn học Ấn Độ cách đây 1.500 năm chứa đựng nhiều thể loại thơ ca về các mùa, với các thể loại tập trung vào sáu mùa (sadritu) và bốn tháng mưa (chaumasa), hoặc về chu kỳ 12 tháng của sự thay đổi điều kiện thời tiết và các mùa khác nhau (barahmasa).
Các văn bản như Visnudharmottarapurana, có lẽ được viết vào khoảng thế kỷ thứ Sáu trên cơ sở tập hợp thông tin từ các khảo luận riêng biệt về thơ ca, âm nhạc và thiên văn, đã thể hiện các mùa như một phần của chu kỳ có thể đoán được, thường xuất hiện lặp đi lặp lại và có thể được con người lường trước - nhưng lại không nói đến thực tế rằng đã có nhiều thay đổi ngắn hạn và dài hạn, chẳng hạn: mùa hè khắc nghiệt và mùa xuân nở rộ.
Có rất nhiều ví dụ điển hình từ thời kỳ này liên quan tới nỗ lực tác động và kiểm soát thời tiết để đảm bảo cho thời tiết ôn hòa và sản lượng nông nghiệp dồi dào. Ví dụ, kinh điển Mahapratisara-Mahavidyarajni khuyên con người rằng nên gắn một câu tụng niệm cụ thể thể lên đỉnh cột cờ, và hứa hẹn nếu làm vậy sẽ “xoa dịu mọi loại gió, rét, mây đen, chớp và sấm sét”, cũng như bảo vệ con người khỏi “những kẻ huỷ diệt mùa màng” chẳng hạn như “các loại côn trùng chích đốt, ruồi, châu chấu và sâu”.
Đây chỉ là một trong số nhiều văn bản tập trung vào các nghi lễ cầu mưa cũng như bảo vệ mùa màng khỏi thời tiết bất lợi và hậu quả của nó, tất cả có thể tìm thấy trong các thư tịch chữ Phạn, Hán và Tây Tạng được truyền thừa qua nhiều thế kỷ.
Ý tưởng cho rằng con người có thể hiểu, kiểm soát và định hình thiên nhiên đã phủ nhận thực tế về các điều kiện thời tiết bất thường và khắc nghiệt - hoặc những xáo trộn đầy kịch tính khác như thiên tai. Chẳng hạn, sóng thần thường xuyên xảy ra ở Địa Trung Hải, không loại trừ những trận sóng có sức phá hủy không tưởng tượng nổi.
|
| Núi lửa Krasheninnikov phun trào. Ảnh: Daliy Guardian. |
Cảng Caesarea ở phía Đông Địa Trung Hải, ngày nay thuộc Israel, từng là nơi có một bến cảng rất lớn, được xây dựng bằng loại xi măng thuỷ lực khô nhanh làm từ tro núi lửa Vesuvius nhập khẩu từ Ý, trộn với đá cuội, gạch vụn dùng làm móng cho cầu tàu được mang đến từ Tiểu Á, đảo Síp và Hy Lạp. Bến cảng này đã bị sóng thủy triều lớn nhất tấn công bốn lần - vào các năm 115, 551, 749 và 1202 -lần nào cũng gây ra thiệt hại đáng kể.
Các trận động đất và sóng thần khác cũng có sức tàn phá nặng nề, như lời kể về một trận sóng thần vào năm 365 đã cho thấy rõ. Một tác gia người La Mã quá cố đã viết, “Ngay sau bình minh, mặt đất vững chãi bị rung chuyển và lắc lư, biển bị đẩy ra xa, sóng của nó cuộn lại và biến mất”, nhiều con tàu bị mắc cạn trên đất liền, mọi người đi lại và nhặt cá bằng tay. “Như thể bị xúc phạm”, biển lại gầm lên qua “các bãi cát ngầm đầy ắp rồi lao thẳng xuống một cách hung bạo” vào các hòn đảo và đất liền, san phẳng các tòa nhà, giết chết hàng nghìn người và làm thay đổi toàn bộ mặt Trái đất.
Mặc dù một số người đặt câu hỏi liệu mô tả này có bị thổi phồng lên cho kịch tính hay không, vì tác giả đã thể hiện một thảm hoạ địa phương như thể một trận đại hồng thuỷ toàn cầu, thì sự thật là đường bờ biển của đảo Crete đã được nâng lên tới 9 mét, có thể là kết quả của nhiều sự kiện địa chấn chứ không phải là một trận duy nhất.
Các vụ phun trào núi lửa cũng có sức tàn phá kinh hoàng, tiêu biểu như vụ phun trào núi lửa Ilopango Tierra Blanca Joven ở địa điểm thuộc El Salvador ngày nay.
Sức mạnh của vụ phun trào có niên đại vào năm 431 thật đáng kinh ngạc, khi mà mô hình hoá các trầm tích cho thấy núi lửa đã phun trào 58 tỷ mét khối đá cực lớn tạo thành một cột thang đứng cao gần 30 kilomet. Tro bụi từ vụ phun trào hẳn đã làm thay đổi thành phần hoá học ở Thái Bình Dương, tạo ra sự gia tăng đáng kể sinh vật phù du đồng thời kéo theo những thay đổi đối với nồng độ cacbon đioxit và oxy trong khí quyển vào những năm sau đó.
Có vẻ như vụ phun trào này đã dẫn đến nhiệt độ toàn cầu giảm đi khoảng 0,5 độ C, thông qua bằng chứng từ các mẫu lõi khoan băng ở châu Nam Cực cho thấy những tác động ở bán cầu Nam là rõ rệt hơn cả. Mọi thứ trong phạm vi 80 kilomet xung quanh miệng núi lửa hẳn đã bị phá huỷ, bao gồm toàn bộ thảm thực vật, thứ phải mất hàng thập niên để phục hồi.
Không dễ để xác lập ảnh hưởng lên khí hậu của Trung Mỹ vì số lượng mẫu có độ phân giải cao hiện nay không nhiều - điều này có thể sẽ được giải quyết trong tương lai. Dữ liệu nghiên cứu vòng sinh trưởng của cây từ vùng Hoa Trung đã chỉ ra đây là giai đoạn hạn hán, từ đó đặt ra câu hỏi liệu điều này có liên quan đến vụ phun trào núi lửa Ilopango hay liên quan tới giai đoạn mát mẻ gắn với hoạt động của Mặt trời hay cả hai.
Cũng có một câu hỏi khác về vai trò của áp lực khí hậu, nếu có, trong làn sóng hợp nhất và di cư mới của các nhóm du mục thời kỳ này, khi một số học giả đưa ra ý kiến rằng áp lực đối với thảm thực vật trên thảo nguyên đóng vai trò là chất xúc tác cho làn sóng di chuyển về phía Tây của người du mục.
Đáng chú ý nhất trong số này là người Hung Nô, những người đã tràn vào châu Âu dưới sự lãnh đạo của vị thủ lĩnh đáng gờm, Thiền vu Attila, vào một thập niên sau vụ phun trào Ilopango.
Bình luận