Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Mini Magazine

Những truyền thuyết ít biết về Âu Cơ và Lạc Long Quân

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Oanh, văn bản cổ "Lĩnh Nam chích quái" có nhiều khác biệt với nội dung phổ biến hiện nay.

Lĩnh Nam chích quái tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần (1225-1400), được xem là một trong những tác phẩm văn xuôi tự sự cổ nhất của Việt Nam còn lưu lại cho tới ngày nay. Tuy nhiên, theo chuyên gia Hán Nôm, PGS.TS Nguyễn Thị Oanh, việc nghiên cứu tác phẩm vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó một nguyên do lớn là sự lẫn lộn về mặt văn bản học và niên đại các bản sao chép hiện còn.

Chuyên luận Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận - Dịch chú - Nguyên bản chữ Hán) của bà đi sâu vào việc nghiên cứu quá trình truyền bản cũng như các yếu tố ngôn ngữ, nội dung, địa danh đề cập trong bản Lĩnh Nam chích quái A.2914, nhằm chứng minh bản Lĩnh Nam chích quái do Đoàn Vĩnh Phúc biên soạn vào năm 1554 từ bản của Vũ Quỳnh 1492 và được sao chép lại vào khoảng thời Hậu Lê - Tây Sơn là bản có niên đại biên soạn và niên đại sao chép lâu đời nhất còn đến ngày nay.

Chia sẻ với Tri thức - ZNews, PGS.TS Nguyễn Thị Oanh lý giải tầm quan trọng của công tác văn bản học đối với nghiên cứu tác phẩm văn học trung đại.

Lần theo hành trình "tam sao thất bản"

- Được biết công trình "Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận - Dịch chú - Nguyên bản chữ Hán)" phát triển từ luận án tiến sĩ bảo vệ thành công vào năm 2005 Nghiên cứu văn bản Lĩnh Nam chích quái của bà. Ý tưởng về đề tài này hình thành ra sao?

- Tôi đã ấp ủ nghiên cứu Lĩnh Nam chích quái để làm luận án tiến sĩ nhưng PGS Trần Nghĩa, bấy giờ là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có khuyên tôi: Lĩnh Nam chích quái đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đi trước khai thác, nếu chọn tác phẩm này thì tôi cần tìm hướng đi mới.

Có thời gian đến Nhật Bản tìm hiểu một số tác phẩm Hán văn của nước bạn, nên tôi định làm đề tài so sánh đối chiếu Lĩnh Nam chích quái với Linh Dị Ký (*).

Nhưng khi bắt tay vào tìm hiểu các vấn đề văn bản của Lĩnh Nam chích quái thì tôi đã thay đổi hướng đi. Năm 2005, luận án của tôi chỉ có 3 chương: (1) Lịch sử văn bản Lĩnh Nam chích quái; (2) Dấu vết niên đại qua một số yếu tố ngôn ngữ; (3) Dấu vết niên đại qua một số cốt truyện, nhân vật, tình tiết, tác phẩm.

3 chương này nhằm mục đích chứng minh rằng văn bản mà tôi lấy làm bản nền để nghiên cứu, bản A.2914, thì khác với những bản mà các nhà nghiên cứu trước đó, các thầy dạy Hán Nôm của tôi, cả các thành viên trong hội đồng xét duyệt đề tài, đã chọn. Ban đầu cũng gặp khó khăn, nhưng cuối cùng tôi đã bảo vệ thành công luận án.

Linh Nam chich quai anh 1

Chuyên luận Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận - Dịch chú - Nguyên bản chữ Hán) dày 720 trang. Ảnh: NXB Khoa học Xã hội phát hành.

- Vì sao bà lại chọn A.2914 làm văn bản nền để nghiên cứu?

- Tôi mong muốn chứng minh rằng bản Lĩnh Nam chích quái mà tôi chọn lựa có lẽ là bản cổ nhất còn đến nay. Sở dĩ A.2914 không được chú ý nghiên cứu trước đó chính là vì nó là một bản tháu dầm. Thuật ngữ này do học giả Trần Văn Giáp đặt ra để chỉ lối viết đá thảo, khiến cho nét chữ Hán không còn rõ và trở thành khó đọc. Ông cho rằng thảo các văn bản có lối chữ viết tháu dầm là những văn bản cổ.

Những năm 60 của thế kỷ XX, đứng trước yêu cầu cần nhanh chóng dịch thuật và công bố các tác phẩm văn học nổi tiếng thời Trung đại, các dịch giả thời bấy giờ không có nhiều thời gian nghiên cứu văn bản, nên đã chọn những văn bản sao chép về sau này, chữ viết rõ ràng, dễ đọc hơn, thế là bỏ qua A.2914.

A.2914 là bản do Đoàn Vĩnh Phúc biên soạn năm 1554, dựa trên bản của Vũ Quỳnh biên soạn năm 1492. Công trình của tôi chứng minh A.2914 là bản có niên đại sớm nhất trong số các bản Lĩnh Nam chích quái hiện còn.

Đây cũng là hai bản duy nhất được Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú giới thiệu trong tác phẩm của mình. Hai ông đều khẳng định bản mà các ông đọc là bản Lĩnh Nam chích quái Tựa của Vũ Quỳnh; được chia làm 3 quyển: 2 quyển đầu tương truyền là sách cổ gồm 22 truyện; quyển thứ ba có 17 tryện do họ Đoàn tuyển chọn một số truyện từ Việt điện u linh và viết bài Bạt cho lần biên soạn này.

Trong số những bản mà tôi nghiên cứu còn có khoảng 5-6 bản đáp ứng tiêu chí tương tự. Vậy thì bản nào là bản cổ, bản nào không phải là cổ? Đó là vấn đề cần làm rõ.

- Đến năm 2024 xuất bản Lĩnh Nam Chích Quái - Khảo Luận - Dịch Chú - Nguyên Bản Chữ Hán, là gần 20 năm trôi qua kể từ ngày bà bảo vệ luận án. Công trình đã thay đổi, phát triển ra sao?

- Sau khi bảo vệ luận án thành công, giai đoạn 2005 - 2010, càng ngày tôi càng thấy nếu không đi sâu, nghiên cứu thật kỹ những hiện tượng ngôn ngữ Hán văn thời Lý - Trần thì không thể nào chứng minh thuyết phục rằng Lĩnh Nam chích quái hoàn toàn tương thích với niên đại này, tức hội tụ đầy đủ các tiêu chí giống với các tác phẩm Hán văn khác ra đời cùng thời kỳ. Muốn chứng minh điều đó, phải khảo sát toàn bộ tác phẩm thời Lý - Trần khác để so sánh.

Đến năm 2014, tôi bắt đầu phát triển thành 5 chương: (1) Văn bản học Hán Nôm và văn bản Lĩnh Nam chích quái - Một vài nhận định; (2) Phân loại và phác họa quá trình truyền bản của Lĩnh Nam chích quái; (3) Một số đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm; (4) Địa danh trong Lĩnh Nam chích quái A.2914; (5) Một số đặc điểm về nội dung của tác phẩm.

- Bà làm cách nào để phác họa quá trình truyền bản của Lĩnh Nam chích quái?

- Đầu tiên, tôi học theo một thao tác của nhóm Thơ văn Lý Trần: Trong lời tựa bản A.3 biên soạn năm 1493, Kiều Phú nêu 3 điểm mà ông cho là không phù hợp với nhãn quan Nho giáo: (1) Thần Tản Viên không phải con trai Âu Cơ; (2) Đổng Thiên Vương không phải Lạc Long Quan thác hóa; (3) Lý Ông Trọng không phải giả vờ đi tả mà chết.

Linh Nam chich quai anh 2

PGS.TS Nguyễn Thị Oanh, tác giả chuyên luận Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận - Dịch chú - Nguyên bản chữ Hán). Ảnh: NVCC.

Căn cứ vào đây, các nhà nghiên cứu đi trước đã xác định bản nào còn 3 tình tiết này thì là bản của Vũ Quỳnh, bản nào đã sửa thì là bản của Kiều Phú. Nhưng sau khi điều này được tiết lộ, người ta lại mang bản Kiều Phú ra sửa những chỗ ấy, chép lại rồi ghi là bản Vũ Quỳnh, khiến công tác phân loại thêm phần khó khăn.

Một sự kiện đáng lưu ý khác là năm 1935, khi Thư viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp ở Hà Nội mở cửa cho độc giả vào đọc sách đã dẫn đến hiện tượng: Nhiều người tiến hành sao chép, ban đầu với mục đích cho gia đình, rồi không biết từ lúc nào, các bản sao chép đó được bán lại cho Viễn Đông Bác Cổ Pháp. Kho sách Hán Nôm từ chỗ chỉ có độc bản được sưu tầm và sao chép từ các thư khố của triều đình nhà Nguyễn, cuối cùng cùng mang một tên sách nhưng có rất nhiều dị bản, gây không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu.

Ngoài ra, sau nhận định kể trên của GS Trần Văn Giáp, lập tức một số người khi sao chép lại bắt chước lối viết tháu dầm, khi sách họ sao chép trở lại kho sách, người đọc không biết mặc nhiên cho là bản cổ. Cách làm đó, khiến tư liệu Hán Nôm trở nên "vàng thau lẫn lộn", không thể phân biệt.

Tôi phải phân loại các bản sách rồi so sánh, đối chiếu từng chữ một giữa các bản khác nhau để đoán xem người xưa đã viết gì.

'Lĩnh Nam chích quái' khi chưa ảnh hưởng Nho giao

- Giữa các bản "Lĩnh Nam chích quái", có những điểm khác biệt nào về nội dung đáng lưu ý?

- Về nội dung, các bản sau không phản ánh được tinh thần thời đại Lý - Trần và tín ngưỡng thời cổ đại. Chẳng hạn môtíp là cây chảy máu hoặc là đá chảy máu chỉ xuất hiện trong bản A.2914.

Hay như Truyện Hồng Bàng, Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là con gái của Đế Lai. Nhưng trong Lĩnh Nam chích quái quyển Trung bảo, bản A.2914, ghi rằng:

Đế Minh sau khi sinh Đế Nghi, nhân tuần thú xuống vùng Ngũ Lĩnh, lấy con gái Vụ Tiên sinh ra Tục Lộc (tức Kinh Dương Vương). Đế Minh cho Đế Nghi cai trị đất Bắc, Kinh Dương Vương cai trị phương Nam. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình sinh ra Sùng Lãm (tức Lạc Long Quân). Đế Nghi sau sinh ra Đế Lai. Đế Lai nhân chuyến tuần thú xuống phương Nam đã mang ái thiếp Âu Cơ cùng đi, rồi nàng bị Lạc Long Quân lấy đưa về núi Long Đọi. Lạc Long Quân và Đế Lai đều là anh em con chú con bác.

Ngô Sĩ Liên, lúc tham khảo Lĩnh Nam chích quái để biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, đã không vượt qua được nhãn quan Nho giáo nên thay đổi cho Âu Cơ thành con gái của Đế Lai.

PGS.TS Nguyễn Thị Oanh

Chuyện như vậy không phù hợp với đạo đức Nho giáo. Nhưng nếu đối chiếu sẽ thấy chi tiết này rất giống với lịch sử: Sau khi sắp đặt cho Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh, Trần Thủ Độ lại ép Trần Cảnh lấy chị dâu của mình - công chúa Thuận Thiên, vợ của anh trai Trần Liễu, đồng thời giáng Chiêu Thánh làm công chúa vì lúc này Thuận Thiên đã có mang.

Đây là một sự bắt chước có chủ đích mà các nhà biên soạn thời Trần đã khôn khéo lồng ghép. Tác phẩm phản ánh đúng tinh thần phóng khoáng chưa bị Nho giáo kiềm tỏa của thời Lý - Trần. Về sau, Ngô Sĩ Liên, lúc tham khảo Lĩnh Nam chích quái để biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, đã không vượt qua được nhãn quan Nho giáo nên thay đổi cho Âu Cơ thành con gái của Đế Lai.

- Còn về ngôn ngữ, bản A.2914 có khác biệt gì?

- Về mặt văn phạm, bản Nguyễn Hữu Tỉnh ở Bắc Ninh rất trung thành với bản của Kiều Phú, có một đặc điểm cốt lõi là sự tiết yếu - đặc trưng của tác phẩm Hán văn thời Nguyễn. Thời Lê câu rất dài, nhưng đến thời Nguyễn thì câu rất ngắn gọn, dẫn đến thay đổi tiêu đề truyện, chú thích, cấp độ số lượng chữ trong tác phẩm. Văn bản A.2914 là bản giữ được đặc điểm của thời Lê.

Về hình thức ngôn ngữ, A.2914 cho thấy Lĩnh Nam chích quái không phải tác phẩm thuần Hán văn, mà là biến thể Hán văn, dùng chữ Hán để ghi âm tác phẩm dân gian tiếng Việt, tương tự cách ghi chép truyện kể dân gian ở Nhật Bản và Hàn Quốc ở cùng thời kỳ.

Làm rõ vấn đề văn bản học sẽ giúp minh định thời kỳ sao chép của văn bản, qua đó sẽ thấy được sự phát triển tư tưởng qua mỗi giai đoạn lịch sử. Qua nhãn quan của người xưa, người nay chắc hẳn sẽ luôn luôn nhìn thấy được tiếng vọng tâm tư, tình cảm của tổ tiên, thu nhặt cho mình những bài học quý báu.

PGS.TS Nguyễn Thị Oanh

Cụ thể là cách dùng Hán-Nôm và câu kính ngữ theo tục quán người Việt. Đọc như tác phẩm thuần Hán văn sẽ thấy câu cú sai văn phạm, từ ngữ sai cách dùng, thậm chí ngô nghê. Nhưng thực tế, nếu đọc bằng tư duy của người Việt thì lại thấy rất dễ hiểu.

Ví dụ, Lĩnh Nam chích quái dùng "thụ lang" để ghi từ "cây cau", cũng giống văn bia Lý-Trần ghi "thụ liễu" để chỉ cây liễu, chứ không phải như chữ "lang" hay "liễu" trong tiếng Hán vốn dĩ đã hàm nghĩa "cây".

Hiện tượng đảo ngược như tiếng Hán Nhật "uy hiếp" thành "hiếp uy", "giới thiệu" thành "thiệu giới", ở ta cũng có. Văn bản A.2914 có nhiều điểm tương đồng với Hán văn các nước Nhật Bản, Hàn Quốc trong giai đoạn này.

A.2914 cũng dùng kính ngữ theo tục quán người Việt, như xưng tôi, anh, chị, ông, bà, cô, bác. Các tác phẩm cổ điển Trung Hoa như Tứ Thư, Ngũ Kinh hay Tả Truyện thì câu vốn không có chủ ngữ.

- Tại sao công trình lại dành riêng một chương để nghiên cứu địa danh trong bản A.2914?

- Địa danh là minh chứng niên đại đáng tin cậy nhất. Nếu không nghiên cứu địa danh thì không thể chứng minh đầy đủ bản A.2914 được Đoàn Vĩnh Phúc biên soạn vào thời nhà Mạc 1554, đến thời của Lê Quý Đôn (1726-1784), sách đã có trong Quốc khố. Sang thời Tây Sơn do Ngô Thì Nhậm quản toàn bộ việc binh dân Bắc Hà nên có thể ông đã cho Viện Hàn lâm sao chép các sách vở cổ thời Lý-Trần-Lê.

Qua chứng minh địa danh nhà Lê chỉ xuất hiện duy nhất ở bản Lĩnh Nam chích quái A.2914, tôi mới có thể cơ sở để kết luận rằng trong các bản Lĩnh Nam chích quái còn lại, đây là bản có niên đại biên soạn và niên đại sao chép cổ nhất còn lưu lại cho tới ngày nay.

- Việc tiếp tục nghiên cứu, làm rõ lịch sử và sự tiến hóa về ngôn ngữ lẫn nội dung của "Lĩnh Nam chích quái" có ý nghĩa ra sao với đời sống tinh thần của người Việt ngày nay?

- Vốn là một tác phẩm dân gian, Lĩnh Nam chích quái vẫn còn ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần người Việt hiện nay. Làm rõ vấn đề văn bản học sẽ giúp minh định thời kỳ sao chép của văn bản, qua đó sẽ thấy được sự phát triển tư tưởng qua mỗi giai đoạn lịch sử. Qua nhãn quan của người xưa, người nay chắc hẳn sẽ luôn luôn nhìn thấy được tiếng vọng tâm tư, tình cảm của tổ tiên, thu nhặt cho mình những bài học quý báu.

Chắc chắn về sau này sẽ còn nhiều vấn đề để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa, không chỉ xoay quanh Lĩnh Nam chích quái mà nhiều tác phẩm văn học trung đại khác.

- Bà có thể chia sẻ cảm nghĩ khi hay tin công trình này được đề cử trao giải tại Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII?

- Các ấn phẩm nghiên cứu Hán Nôm khá kén độc giả, nên tôi rất mừng khi Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận - Dịch chú - Nguyên bản chữ Hán) được đón nhận. Trước đây tôi đã có các công trình Ứng Khê thi văn tập (Tuyển tập thơ văn của Ứng Khê - tức Đoàn Huyên); Cẩm Đình Thi tập, Quốc sử diên (Phan Thúc Trực) đều do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành.

Nhà xuất bản có lịch sử gần 60 năm với đội ngũ biên tập viên kỳ cựu. Đối với Hán Nôm là lĩnh vực rất khó, biên tập viên phải tự trang bị kiến thức, học thêm tiếng Trung và Hán Nôm.

Chị Nguyễn Bạch Ly, biên tập viên trực tiếp làm việc với tôi qua nhiều cuốn sách, là một người rất giỏi Hán Nôm. Chị tỉ mỉ "nhặt sạn", giúp tôi nhìn ra những chỗ còn thiếu sót, chẳng hạn phiên âm chưa đủ hoặc chữ Hán chưa đúng phiên âm. Nhờ những biên tập viên như vậy mà tác giả mới có tác phẩm để đời. Nhà xuất bản đã trở thành một địa chỉ rất đáng tin cậy để gửi gắm những đứa con tinh thần của các nhà nghiên cứu Hán Nôm nói riêng và khoa học xã hội và nhân văn nói chung.

Được Hội đồng Giải thưởng Sách Quốc gia cân nhắc trao giải là một sự ghi nhận rất có ý nghĩa đối với tôi cũng như biên tập viên và nhà xuất bản, tiếp thêm động lực để chúng tôi vững bước trên con đường nghiên cứu còn dài phía trước.

(*) Tập truyện Phật giáo cổ do sư Keikai biên soạn bằng Hán văn vào cuối thế kỷ VII - đầu thế kỷ thứ IX. Tác phẩm gắn liền với các sự kiện có thật, bao gồm yếu tố siêu nhiên, ma quỷ và có một số môtíp tương đồng với truyện cổ Việt Nam.

----------------

Trong bài co sử dụng tranh của họa sĩ Tạ Huy Long vẽ minh họa Lĩnh Nam chích quái.

PGS.TS Nguyễn Thị Oanh sinh năm 1956, từng công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam); từng làm Viên cứu viên người nước ngoài tại: Viện Nghiên cứu Đông Dương (Đại học Tokyo), Viện Nghiên cứu Văn hóa Nhật Bản quốc tế (Nichibunken), Đại học Rikkyo, Đại học Waseda, Thư viện Đông Dương văn khố (Nhật Bản). Hiện nay bà là Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Nhận thức - Giáo dục Thăng Long, Trường Đại học Thăng Long.

Các hướng nghiên cứu chính của bà gồm: Văn bản học Hán Nôm; Văn học so sánh (Nghiên cứu so sánh truyện cổ Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản); Hán văn Việt Nam (Nghiên cứu Huấn độc Hán văn ở Việt Nam); Thư chí học (Kho sách Hán Nôm và các vấn đề liên quan). Bà đã đăng tải hàng trăm bài viết trên các tạp chí trong nước và quốc tế, góp mặt trong các sách chuyên khảo bằng các thứ tiếng: Việt, Nhật, Trung Quốc, Anh, Hàn Quốc.

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Trân trọng.

Tâm Anh

Bạn có thể quan tâm