
Đi dọc Việt Nam để gặp gỡ những người phụ nữ từ cả hai miền Nam - Bắc đã góp sức làm nên đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại, tác giả Sherry Buchanan tìm kiếm không chỉ "tiếng nói phía bên kia của cuộc chiến", mà còn là "tiếng nói phía bên kia của một mặt trận khác, mặt trận về giới" ở những bông hồng gai góc.
Hơn 200 trang sách Đường mòn Hồ Chí Minh: Con đường máu, Những nữ chiến sĩ bảo vệ đường, Di sản vì vậy mà dày đặc lời chứng vang vọng ký ức chiến tranh hằn dấu nơi những người sống sót sau cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng với trái tim đa cảm, nhiệt huyết lấy "hòa giải" làm từ khóa cho sự nghiệp báo chí của mình, Sherry Buchanan cũng đã làm nên một tường thuật dịu dàng mà kiên định ánh chiếu tinh thần phản chiến và khát vọng hòa bình.
Chia sẻ với Tri Thức - ZNews, bà trải lòng về hành trình cá nhân khám phá chân dung muôn vẻ của chiến tranh và nỗ lực đưa tri kiến ấy đến độc giả quốc tế.
Nghệ thuật dẫn lối
- Bà từng là một sinh viên Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam. Điều gì đã khiến bà, bốn mươi năm sau, không chỉ trở lại Việt Nam mà còn trực tiếp đi dọc “con đường máu” - một biểu tượng vẫn còn là ký ức đau đớn nhất?
- Không quân Mỹ đã thả gần 8 triệu tấn bom nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh để ngăn cản thống nhất hai miền Bắc - Nam như đã hứa hẹn trong Hiệp định Geneva 1954. Các đợt ném bom đã giết chết hàng nghìn thanh niên nam nữ. Hàng nghìn người khác bị thương, chịu đói khát, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, và dẫu có sống sót cũng trải qua chấn thương tâm lý.
|
| Sách Đường mòn Hồ Chí Minh: Con đường máu, Những nữ chiến sĩ bảo vệ đường, Di sản của tác giả Sherry Buchanan; Quế Chi dịch; NDBooks và NXB Phụ Nữ Việt Nam phát hành. Ảnh: Việt Hà. |
Thế nhưng, nghịch lý thay, chính nghệ thuật và cái đẹp mới là điều đã đưa tôi đến với đường mòn Hồ Chí Minh. Tôi được truyền cảm hứng bởi những tác phẩm nghệ thuật sáng tác trong thời chiến.
Tôi kinh ngạc khi phát hiện các họa sĩ đã vẽ giữa làn bom đạn ở Hà Nội, trên tuyến đường mòn và ngay tại chiến trường. Những bức ký họa màu nước đầy chất thơ và các tác phẩm sơn dầu biểu hiện đã khắc họa nỗi đau và sự kiên cường bền bỉ của con người. Điều khiến tôi đặc biệt chú ý là rất nhiều tác phẩm vẽ các nữ chiến sĩ. Hình ảnh ấy hoàn toàn đối lập với bản tin truyền hình Mỹ hằng đêm tái hiện đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt Nam như những người cộng sản da vàng khát máu, cuồng tín và gây hấn.
Để bảo tồn và chia sẻ những tư liệu mỹ thuật và lịch sử quan trọng này, tôi đã quyết định đi dọc các con đường, chiến trường và phong cảnh từng truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ, đồng thời gặp gỡ những cựu chiến binh, đặc biệt là phụ nữ, mà họ từng ký họa.
Họa sĩ Trần Trung Tín đã vẽ chân dung những phụ nữ mang sẹo chiến tranh; những người khỏa thân nhưng mang súng, tay cầm một bông hoa hoặc chú chim nhỏ; những người Công giáo và Phật tử cầu nguyện những vị thần vắng mặt; và vẽ Hà Nội dưới bom đạn.
Các họa sĩ nhà nước tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Hà Nội thì làm công tác tuyên truyền và theo chân bộ đội ra chiến trường. Họ khắc họa những khoảnh khắc đời thường giữa chiến tranh: người lính viết thư về nhà, đưa trẻ đến trường, các nhạc công chơi vĩ cầm song tấu cho chiến sĩ, bạn bè hút thuốc và chia sẻ tâm tư trong hầm trú ẩn trước trận đánh, hay hàng loạt chân dung mà người lính gửi về gia đình để đặt lên bàn thờ nếu họ hy sinh.
Còn có cả những bức phong cảnh: hang động hùng vĩ của Quách Phong ở Phước Long; rừng Tây Ninh trong tranh Lê Lam; phong cảnh Đồng Tháp Mười của Nguyễn Thanh Châu; và những cuộc vượt sông ban đêm của Huỳnh Phương Đông.
- Trong Lời mở đầu, bà chia sẻ rất thẳng thắn về trách nhiệm đạo đức của nước Mỹ, cũng như những vết thương trong gia đình, bao gồm trải nghiệm của cha mình - một lính Thủy quân lục chiến trong chiến tranh Triều Tiên. Theo bà, động lực cá nhân và trách nhiệm công dân của một nhà báo đã đan xen với nhau như thế nào trong cuốn sách này?
- Tôi nghĩ đó là hai điều không thể tách rời. Xét theo trình tự thời gian thì trách nhiệm công dân của tôi với tư cách nhà báo đã đến trước. Mãi đến khi ngoài 50 tôi mới nhận ra mối liên hệ giữa chiến tranh và những chấn thương trong gia đình mình. Những vết thương ấy sẽ luôn tồn tại, nhưng dường như cũng “lập trình” cho tôi theo đuổi chủ đề hòa giải trong sự nghiệp làm báo.
Với tư cách nhà báo, tôi tìm cách ghi lại cuộc kháng chiến chống Mỹ qua lịch sử truyền miệng từ mọi phía.
|
| Tác giả với Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2013) - kiến trúc sư đường mòn Hồ Chí Minh - tại nhà riêng của ông ở Hà Nội, 31/3/2006. Ảnh: NVCC. |
Tôi bàng hoàng nhận ra rằng sau 40 năm, hàng nghìn tự sự, bộ phim và hình ảnh trong thế giới Anh ngữ về chiến tranh tại Việt Nam vẫn chủ yếu lấy nước Mỹ và đàn ông làm trung tâm. Nhưng thực tế, có đến 60.000 thanh niên xung phong bảo vệ đường mòn, trong đó nhiều người là phụ nữ. Ước tính 1,7 triệu phụ nữ miền Bắc và 1 triệu phụ nữ miền Nam tham gia. Họ là chiến sĩ, xạ thủ; họ vận chuyển đạn dược, vũ khí, gạo; xây đường, cầu, hầm; lái xe tải; phá bom; làm y tá, nhân viên y tế; làm nhạc công, diễn viên, họa sĩ.
Thế nhưng câu chuyện của phụ nữ gần như vắng bóng trong lịch sử chiến tranh ở Việt Nam của chúng tôi.
Xin nói thêm ở đây, tôi có may mắn là những năm tháng lớn lên ở Thụy Sĩ đã định hình cho tôi một thế giới quan quốc tế và sự nhạy cảm với nghệ thuật và cái đẹp của các nền văn hóa. Người giám hộ của tôi từng là Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn và ở tuyến đầu phong trào phi thực dân hóa. Còn mẹ tôi là nhà làm phim tài liệu, sẵn sàng nói lên sự thật trước cường quyền; đã ghi lại cuộc kháng cự của người Motilon ở Colombia khi chứng kiến việc khai thác dầu lấn chiếm đất đai của họ.
Phụ nữ cho thấy sự phi nghĩa của chiến tranh
- Bà mô tả đường mòn Hồ Chí Minh như một “cơ thể sống” - phức tạp, biến hóa, liên tục bị phá hủy rồi lại tái sinh. Cách nhìn này hình thành và phát triển như thế nào qua nghiên cứu lịch sử và trải nghiệm thực địa của bà?
- Trong cuộc chiến, nhận thức phổ biến của người Mỹ xem Đường mòn Hồ Chí Minh là một tuyến đường đơn lẻ, cố định.
Khi bắt đầu nghiên cứu, tôi nhanh chóng nhận ra như thế là lầm to. Tôi lập bản đồ lộ trình, tra cứu lưu trữ trực tuyến, đọc hồi ký Đường xuyên Trường Sơn của Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên và cuốn The Blood Road (Con đường máu) của sử gia Mỹ John Prados.
Qua phỏng vấn cựu chiến binh và khai thác lưu trữ số của Việt Nam, tôi ghép nối được quá trình con đường phát triển từ một lối mòn nhỏ qua vùng phi quân sự thành mạng lưới dài 10.000 dặm với năm trục Bắc-Nam và 21 tuyến Đông-Tây, đi qua Việt Nam, Lào, Campuchia.
Đại tá Lê Kim Thơ từng nói: “Trở ngại lớn nhất của chúng tôi là Không lực Hoa Kỳ. Chúng tôi phải chiến đấu để vượt qua. Chúng tôi mở đường xuyên núi. Khi đường này bị phát hiện thì chúng tôi lại mở đường khác”.
|
| Trích sách Đường mòn Hồ Chí Minh: Con đường máu, Những nữ chiến sĩ bảo vệ đường, Di sản. |
- Bà cảm thấy như thế nào khi đặt chân đến những vùng đất đã hứng chịu gần 8 triệu tấn bom?
- Tràn đầy kinh hoàng nhưng cũng khấp khởi hy vọng.
Tôi tận mắt thấy những trở ngại vật lý trong việc xây dựng và bảo vệ mạng lưới đường dài 16.000 km xuyên rừng Trường Sơn. Cầu, đường, sông ngòi nhiều lần bị đánh bom, có nơi hàng trăm lần. Cầu Hàm Rồng chịu 873 phi vụ không kích. 75 triệu lít chất độc da cam và thuốc diệt cỏ đã bị rải xuống.
40 năm sau, di sản chiến tranh vẫn hiện hữu: 72 nghĩa trang liệt sĩ chỉ riêng dọc Quốc lộ 9 ở Quảng Trị; thành cổ Quảng Trị chỉ còn một bức tường; cảng Vinh bị phá hủy hoàn toàn; những đường hầm ở Vĩnh Long, Củ Chi, hang động ở Phong Nha và Lào; hố bom như ao nước; bom chưa nổ còn sót lại; những gia đình có con dị tật vì chất độc da cam; nhiều người vẫn mất tích.
Cuối chuyến đi, tôi tự hỏi liệu đây có phải một cuộc diệt chủng - dù nó đã không được xác định như vậy dựa trên định nghĩa của Liên hợp quốc.
Nhưng tôi cũng thấy hy vọng. Thiên nhiên tái sinh. Các thành phố phát triển. GDP bình quân đầu người từ 80 USD năm 1975 lên gần 5.000 USD năm 2024. Hệ thống bệnh viện mở rộng với hơn 1.500 cơ sở.
- Bà nhắc đến "Even the women must fight: Memories of War from North Vietnam" (Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh: Kí ức chiến tranh từ miền Bắc Việt Nam; Karen Gottschang Turner cộng tác với Phan Thanh Hao, 1998) như một ngoại lệ trong bể tư liệu khổng lồ về cuộc chiến. Theo bà, việc nhìn chiến tranh qua trải nghiệm của phụ nữ có thể thay đổi hiểu biết và cảm nhận của chúng ta như thế nào?
- Có một giả định, dầu đúng dầu sai, rằng đàn ông thích chiến đấu và bạo lực, rằng đó là một phần trong “bản chất” của họ.
Nhưng chuyện phụ nữ cầm súng thì lại nghịch lý. Có gì đó vừa bi thương vừa chướng mắt khi những người mang lại sự sống lại bị buộc phải giết chóc để bảo vệ con cái và đất nước mình.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.
Đó chính là sức mạnh trong câu chuyện chiến tranh của phụ nữ. Họ làm nổi bật sự ghê tởm, phi lý và vô nghĩa của chiến tranh.
Những câu chuyện của họ cũng đau thắt ruột gan theo cách mà câu chuyện của đàn ông khó lòng đạt tới. Một phụ nữ kể chị phải bỏ lại đứa con đang khóc trong rừng để làm nhiệm vụ, để rồi nhiều năm sau mới gặp lại khi con đã trưởng thành. Một người làm giao liên ở miền Nam nói chị buộc phải mang theo con nhỏ trong một nhiệm vụ nguy hiểm để bảo vệ mẹ lẫn con. Một người khác cầu xin binh lính để chị được cho con bú lần cuối trước khi bị xử bắn.
- Khi trò chuyện trực tiếp với các nữ thanh niên xung phong từng phục vụ trên đường mòn, điều gì khiến bà ngạc nhiên nhất?
- Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là họ không hề nuôi dưỡng căm hờn hay cay đắng với cựu thù, mà trái lại, sẵn lòng bước tiếp và tái thiết cuộc đời.
Tôi chỉ có thể suy đoán rằng khả năng tha thứ ấy đến từ sức mạnh nội tâm, từ đức tin Phật giáo rằng tức giận chỉ làm tổn hại chính mình, cùng với sở nguyện thiết thực là phải tiếp tục sống.
Có người trở thành chính trị gia nổi tiếng, một số xây dựng doanh nghiệp, số khác làm công chức. Hầu như không một ai bày tỏ mong muốn trả thù. Tôi thấy điều đó thật phi thường - đặc biệt ở những phụ nữ không thể sinh con vì thương tích chiến tranh hay những người từng chịu tra tấn dã man.
Nhiều cựu binh nói phong trào phản chiến tại Mỹ đã giúp họ phân biệt giữa nhân dân Mỹ và chính phủ Mỹ, cũng như những cựu binh Mỹ quay lại Việt Nam xin lỗi sau chiến tranh.
Nữ chiến sĩ - nhà thơ Lê Hoàng Quân, từng sống sót sau tra tấn ở “chuồng cọp” Côn Đảo, đã nói với tôi: “Tôi không ghét những người lính bị bắt nhập ngũ… Người Mỹ và người Việt đều là những con người lương thiện. Tôi không giữ thù hận. Những người mẹ Mỹ cũng không muốn con họ đến đây để bị giết. Nhưng khi đã đến, họ phải làm theo lệnh. Tôi chỉ ghét một vài cá nhân xấu xa”.
Còn đây là lời cựu binh Hoàng Thị Mai: “Tôi biết người Mỹ cảm thấy hối lỗi vì những gì họ đã làm. Các cựu chiến binh Mỹ nói chính phủ bảo rằng họ đang mang văn minh đến Việt Nam... Giờ chúng tôi coi nhau như những người bạn. Chúng tôi nên tha thứ cho họ”.
Cuộc kháng chiến được nhân dân ủng hộ có thể chiến thắng siêu cường
- Bà đã dành nhiều năm nghiên cứu mỹ thuật chiến tranh Việt Nam. Theo bà, nghệ thuật có thể biểu đạt điều gì mà lịch sử bằng chữ viết thường khó chuyển tải?
- Tôi nhớ họa sĩ Trần Trung Tín từng nói: “Hội họa là ngôn ngữ của sự im lặng. Tôi không muốn nói về đời mình. Hãy xem tranh của tôi”.
Ngôn từ thường mang tính giáo huấn, nó dạy bảo bạn, thuyết phục bạn phải nghĩ thế này, thế khác. Lịch sử bằng chữ viết luôn mang theo cái tôi, thế giới quan, thiên kiến hoặc thông điệp tuyên truyền của tác giả.
Nhưng tranh vẽ thời chiến thì lại chạm đến trái tim và tâm hồn. Người xem được tự do diễn giải. Một phong cảnh có chiến sĩ có thể hiểu theo nhiều cách: người thì xem đó là tuyên truyền, người quan sát thấy bảng màu đẹp, người lại xúc động trước biểu cảm của người lính.
|
| Phan Hoài Phi, Trên đường Hồ Chí Minh, tranh sơn dầu trên vải, 1995. Ảnh trích từ sách Đường mòn Hồ Chí Minh. |
- Qua nghiên cứu thực địa, bà có gặp những phụ nữ ngoài đời phản chiếu hình ảnh nghệ thuật trong tranh: vừa trần trụi vừa mang tính biểu tượng?
- Tôi nhận thấy trải nghiệm của họ phản ánh những đối lập đã hiện lên trong tranh: mong manh, trong trẻo nhưng cũng dũng cảm và mạnh mẽ. Nhưng gặp gỡ trực tiếp mới thấy họ còn mạnh mẽ hơn thế. Chúng tôi đã cùng cười với nhau vô số lần; và cũng không ít dịp ôm nhau khóc. Có những cuộc gặp xúc động đến mức tôi phải tạm ngừng nghiên cứu vài ngày, vài tuần, thậm chí vài tháng để lấy lại cân bằng.
- Trong hành trình này, bà gặp cựu binh Mỹ, phụ nữ miền Bắc, người miền Nam cũ. Theo bà, điểm chung sâu xa nhất trong ký ức của họ là gì?
- Họ đều ghét chiến tranh. Một họa sĩ Việt Nam từng nói: “Nếu chúng ta đều là nghệ sĩ thì sẽ không có chiến tranh”.
- Di sản đường mòn Hồ Chí Minh hôm nay mang thông điệp gì cho người Việt, cho người Mỹ và cho thế giới?
- Con đường là minh chứng rằng một cuộc kháng chiến vũ trang được nhân dân ủng hộ có thể chiến thắng hai siêu cường.
Ngày nay, nhiều người Mỹ thừa nhận chiến tranh Việt Nam là “không cần thiết” đối với an ninh quốc gia Mỹ. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ thì phủ nhận can thiệp quân sự là bất hợp pháp; không thừa nhận đó là thất bại cần bồi thường hay tội ác chiến tranh. Mỹ đã đồng ý chi trả để làm sạch một số “điểm nóng” nhiễm dioxin dưới hình thức viện trợ chứ không phải bồi thường chiến tranh, nhưng chương trình này đã bị cắt giảm do cắt ngân sách USAID.
- Sau Đường mòn Hồ Chí Minh, bà còn cảm thấy một “món nợ chưa trả” nào với Việt Nam, với những phụ nữ bà gặp, hay với lịch sử Mỹ?
- Tôi sẽ xuất bản Steel Flowers: The Women of the Vietnam War (tạm dịch: Những bông hoa thép: Phụ nữ trong cuộc chiến tranh Việt Nam) để tiếp tục kể câu chuyện về những nữ chiến sĩ hoạt động bí mật ở miền Nam, chịu nguy cơ bị bắt, tra tấn... trong các nhà tù do Mỹ quản lý.
Với lịch sử Mỹ, tôi cảm thấy trách nhiệm tiếp tục ghi lại chiến tranh từ mọi phía qua tự sự cá nhân, lời chứng và nghệ thuật, từ đó làm nổi bật tính nhân văn phổ quát.
- Cuốn sách "Đường mòn Hồ Chí Minh: Con đường máu, Những nữ chiến sĩ bảo vệ đường, Di sản" được đề cử Giải thưởng Sách Quốc gia Việt Nam. Cảm xúc của bà thế nào?
- Tôi biết nhiều hồi ký và công trình nghiên cứu lịch sử - bao gồm của các nữ cựu binh - đã được xuất bản tại Việt Nam. Tôi rất biết ơn nhà xuất bản đã đề cử cuốn sách.
Tôi rất vinh dự và xúc động khi độc giả Việt Nam quan tâm và đồng cảm với hành trình khám phá đường mòn Hồ Chí Minh qua những câu chuyện tôi thu thập được từ cựu binh Mỹ, nghệ sĩ, phụ nữ miền Bắc và người miền Nam cũ.
Tôi hy vọng việc thấu hiểu góc nhìn của nhau sẽ dẫn tới một thế giới vượt lên trên chiến tranh - nơi ngoại giao được ưu tiên hơn bạo lực.
Sherry Buchanan từng là biên tập viên và cây bút của Wall Street Journal và International Herald Tribune. Bà sáng lập nhà xuất bản Asia Ink (thuộc University of Chicago Press) để ghi lại chiến tranh Việt Nam từ đa dạng góc nhìn. Hiện bà sống tại London và Tây Nam Scotland cùng chồng.
Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews
Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.
Trân trọng.