
Emma, một người bạn đến từ Hungary đã nói với tôi rằng nếu muốn tìm hiểu về thế giới văn học của László Krasznahorkai hãy bắt đầu từ tác phẩm Vũ điệu quỷ Satan. Tình cờ, một cô gái làm ở tiệm sách tôi gặp trên tàu đi từ Đan Mạch đến Berlin cũng chia sẻ như vậy.
Tuy nhiên, Vũ điệu quỷ Satan chỉ là cánh cửa, để rõ hơn về tầm nhìn của László về thời đại, ta cần tìm về bờ vai của những người khổng lồ mà ông đã đứng lên.
Chuyến đi đến Bảo tàng Văn học Hungary Petofi ở Budapest càng khiến tôi tin vào điều đó. Bởi trước khi Krasznahorkai thành chủ nhận Nobel Văn chương, văn học Hungary đã có nhiều người khổng lồ.
|
| Bảo tàng Petofi nằm giữa khu phố cổ quận V, Budapest. Ảnh: Đức Huy. |
Thế giới văn học của những thủ lĩnh tinh thần
Sandor Petofi là một cái tên xa lạ với người trẻ như tôi, đặc biệt khi nhắc đến thơ, người đầu tiên tôi nghĩ đến là Miklós Radnóti với những bài thơ gửi vợ được viết trong trại tập trung. Nhưng quả thực, nếu nhắc đến thi ca đất nước người Magyar, sẽ là thiếu sót lớn nếu không biết Sandor Petofi - vị thủ lĩnh tinh thần của nhân dân Hungary.
Cũng vì vậy, phần lớn bảo tàng văn học tại thành phố Budapest đã dành một không gian lớn cho ông. Mỗi gian phòng được chia thành các chủ đề như Hy sinh, Quái vật, Kết nối. Thiết kế này cũng phản ánh một phần sự nghiệp thi ca của Petofi.
|
| Chân dung nhà thơ Sandor Petofi. |
Trong giai đoạn đầu, Sandor Petofi đưa chất liệu dân gian vào thơ ca một cách tự nhiên. Khác với các nhà thơ cùng thời vốn cố gắng phục dựng lại các thiên sử thi cổ xưa đã mất, Petofi sử dụng ngôn ngữ bình dân kết hợp với hệ thống ẩn dụ phức tạp và độc đáo để tạo nên những tác phẩm xuất sắc như trường ca János vitéz (Hiệp sĩ János) hay A helység kalapácsa (Tạm dịch: Cái búa nông thôn). Thơ ông nhanh chóng lan truyền khắp đất nước và được phổ nhạc thành các bài hát dân ca.
Để tái hiện tinh thần đó, bảo tàng đã bố trí một không gian mộc mạc với các đồ vật đậm chất làng quê. Thông qua chúng, người tham quan có thể hiểu được sự giản dị trong phong cách sống của Petofi hình thành nên một lớp ngôn ngữ gần gũi.
Theo người giới thiệu tại bảo tàng, các tác phẩm kể trên của ông hiện nay được giảng dạy tại nhiều trường tiểu học trên khắp cả nước. Học sinh tại một số trường ở Budapest thường tổ chức các chuyến đi thực tế đến bảo tàng để tìm hiểu sâu hơn về sự nghiệp của Petofi.
|
| Không gian trưng bày tái hiện cuộc sống nhà thơ. Ảnh: Đức Huy. |
Bên cạnh mảng thơ dân gian, Petőfi còn thử nghiệm với thơ tình đô thị (Szerelem gyöngyei - Những viên ngọc tình yêu), thơ lãng mạn đen tối mang phong cách Gothic (Cipruslombok Etelke sírjáról - Nhành bách tùng trên mộ Etelke). Cuộc hôn nhân của ông với Júlia Szendrey năm 1847 đã mở ra một mảng thơ gia đình đầy cảm xúc chân thành, bình đẳng và hiện đại, nơi tình yêu ngọt ngào vẫn luôn dâng trào song hành cùng những linh cảm chập chờn về cái chết.
Ngày 15/3/1848, bài thơ Nemzeti dal (Tạm dịch: Bài hát quốc gia) của ông được in và xướng lên trên các đường phố, trở thành khúc ca khải hoàn và biểu tượng bất tử của Cuộc cách mạng Hungary.
|
| Chân dung Mór Jókai và tủ sách của ông tại bảo tàng Petofi. |
Sát cánh với Petofi, một người bạn của ông, tiểu thuyết gia Mór Jókai cũng là một cây bút kiệt xuất của xứ sở Magyar. Jókai là một trong những thủ lĩnh nòng cốt của nhóm "Thanh niên tháng Ba" (Márciusi Ifjak). Những tác phẩm của ông mang đậm tinh thần chiến đấu, kịch tính mạnh và sự lãng mạn lôi cuốn người đọc đi tìm lời giải tới tận trang cuối cùng.
Tiêu biểu trong kho tàng văn học của ông là nhân vật đầy toan tính Teleki Mihály trong Erdély aranykora (Thời hoàng kim của Transylvania). Ngoài ra, người đọc còn biết đến Mihály Timár, người đàn ông giằng xé giữa hai cuộc đời, một bên là tình yêu tự do, bên còn lại là cuộc sống quý tộc xa hoa giả dối.
Hiện tại, không có nhiều tác phẩm của Mor Jokai đã được dịch sang tiếng Việt, hay tiếng Anh. Tuy nhiên, thơ của Petofi vẫn còn những bản dịch của Tố Hữu và một số dịch giả khác trên không gian mạng.
Văn học như một dòng chảy
Văn chương phản ánh thời kỳ chủ nghĩa Lãng mạn và Cải cách của Hungary, với đỉnh cao là hai tên tuổi nêu trên. Tiến gần hiện tại, văn chương Hungary vẫn có những cây bút xuất sắc cho thấy tầm nhìn về sự chuyển đổi xã hội và ký ức lịch sử.
Cái tên đầu tiên có thể kể đến là Imre Kertész, với tác phẩm Không số phận đã ra mắt với độc giả Việt Nam. Ngoài ra, độc giả trên thế giới còn biết đến Kaddish for an Unborn Child, Liquidation. Mảng chủ đề chính của ông là thân phận con người trong cơn bão chiến tranh.
Thay vì đi vào hai mặt thiện ác, Imre tập trung vào những thay đổi của con người khi bước ra từ bóng tối để rồi trôi nổi, lạc lõng trong cuộc sống không còn như xưa. Giống như nhân vật György, khi trải qua thời gian trong trại tập trung, cậu trở về và chật vật để hòa nhập với cuộc sống mới.
|
| Huy chương Nobel dành cho Imre Kertész được trưng bày tại Bảo tàng Văn học Petofi (Budapest, Hungary). Ảnh: Đức Huy. |
Với những đóng góp cho văn học, năm 2002, Imre Kertész được trao giải Nobel Văn học. Ông trở thành nhà văn Hungary đầu tiên giành giải thưởng danh giá này.
Tấm huy chương Nobel được đặt giữa căn phòng giới thiệu các nhà văn Hungary từ giữa thế kỷ XX đến nay như một điểm nhấn cho hành trình của văn học Hungary qua biến động lịch sử của đất nước.
Những cái tên khác trong giai đoạn này là Sandor Marai, Szécsi Margit và László Nagy. Nếu Marai tập trung vào sự tan rã và suy tàn của thế giới tư sản châu Âu đầu thế kỷ 20, Szécsi Margit và László Nagy lại hướng tới đời sống của những con người bình thường, những giá trị dân gian và ký ức văn hóa Hungary, qua đó phản ánh tâm tư thầm kín và khủng hoảng tinh thần của đất nước trong thế kỷ XX.
Cho đến năm 2025, László Krasznahorkai trở thành nhà văn Hungary tiếp theo được trao giải Nobel Văn học, sau Imre Kertész. Nếu nhìn văn học như một mạng lưới giao thoa, có thể thấy Krasznahorkai không xuất hiện như một tiếng nói đơn độc, mà đứng ở điểm giao của nhiều dòng chảy văn chương Hungary.
Ở ông có bóng dáng của những ám ảnh lịch sử mà Kertész từng đặt vào trung tâm tác phẩm, có sự quan tâm đến những con người bên lề xã hội, đồng thời tiếp nối truyền thống văn học luôn tìm cách đối thoại với những biến động của thời đại.
|
| Máy in cơ khí kiểu Columbia (Columbia press) thuộc xưởng in lịch sử Landerer & Heckenas. Chiếc máy gắn liền với phong trào tự do của nhóm Thanh niên tháng Ba. Ảnh: Đức Huy. |
Từ Petofi, văn học Hungary từng dùng thơ ca để cất lên tiếng nói của một dân tộc đang tìm kiếm tự do. Qua Márai, Kertész hay những nhà văn thế kỷ XX, văn chương tiếp tục ghi lại sự đổ vỡ của những thế giới từng tồn tại. Đến Krasznahorkai, những đổ vỡ ấy dường như không còn nằm trong một biến cố lịch sử cụ thể mà lan rộng thành cảm giác về một thế giới hỗn loạn, bất định và khó tìm thấy lối thoát.
Vì vậy, Bảo tàng Văn học Hungary Petofi đã cho thấy cách nhìn thấy những lớp trầm tích đã tạo nên một Krasznahorkai của ngày hôm nay.
Bởi văn học nói chung, qua nhiều thế hệ, luôn là một cuộc đối thoại giữa quá khứ và hiện tại, giữa ký ức của một dân tộc và những bất an của con người trước thời đại.
Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews
Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.
Trân trọng.
Bình luận