Hậu điền và kỵ điền
Đã nói tới giỗ, không thể không đề cập các hậu điền và kỵ điền.
Hậu điền là ruộng hậu, nguyên là của tư một người vì không có con cái, đem ruộng đó cúng cho họ hoặc cho làng để làm việc chung cho cả họ hoặc cả làng: xây nhà thờ, làm đình chùa v.v... Họ hoặc làng nhận ruộng, khi người hiến ruộng chết, họ hoặc làng sẽ cúng giỗ người này. Kỵ điền là ruộng tư giao cho làng để cúng giỗ.
Có những trường hợp, những người không có con trai, con gái sẽ mua ruộng cúng vào họ hoặc vào làng để họ hoặc làng sẽ làm giỗ cho cha mẹ mình. Những ruộng này gọi là kỵ điền. Trong Học luật lệ An Nam, Thân Trọng Huề viết: “Kỵ điền là ruộng tư giao cho làng để kỵ giỗ cho mình hay là kỵ giỗ cho ông bà cha mẹ mình”.
Của hương hỏa
Của hương hỏa là của cải gia tiên để lại, lấy hoa lợi dùng trong việc thờ phụng và cúng giỗ. Không có con cháu nào có quyền phát mại của hương hỏa, và trong trường hợp bị tịch biên, của hương hỏa cũng được trừ lại.
Cuốn gia phả với ngày giỗ
Làm thế nào để nhớ hết những ngày giỗ từ ngũ đại trở xuống, cả giỗ chính lẫn giỗ phụ, giỗ phụ, đây là ngày giỗ những ông mãnh bà cô, giỗ ông chú bà bác, chết yểu hoặc không có con cái giỗ tết do các người cháu lo. Nhiều người gia trưởng hàng năm phải cúng rất nhiều giỗ, khó nhớ cho hết.
Mỗi ngày giỗ đều được ghi trong một cuốn gia phả, tức là quyển sổ ghi chép tính danh, ngày sinh ngày tử và con cái của mỗi người. Mỗi gia đình đều có một cuốn gia phả. Quyển gia phả lại giúp người gia trưởng biết sự liên hệ giữa mình và người hưởng giỗ để khấn vái trong khi cúng.
Ở nhà quê quyển gia phả được giữ gìn rất cẩn thận, mọi biến cố gì trong gia đình, sinh hoặc tử, đều có ghi thêm vào. Đối với một người đã quá vãng, trong gia phả thường ghi rõ, ngoài tính danh, ngày sinh tử, tên các cụ sinh ra vị đó, tên hiệu tên tục, tên hèm và chức tước. Lại có ghi cả vị đó đã sinh ra những con nào, làm nên sự nghiệp gì.
Có nhiều gia đình trong quyển gia phả có ghi cả sinh quán, trú quán và nguyên quán của từng người, lại có khi ghi thêm cả sự ưa thích lúc sinh thời của mỗi vị.
|
| Hình ảnh cúng lễ tại một nhà thờ họ. Ảnh: Baoquangtri.vn. |
Ngày giỗ của những người mất tích
Có nhiều người vì sinh kế hoặc vì một lý do nào khác, bỏ nhà ra đi rồi không trở về, cũng không có tin tức cho gia đình biết. Có người bị giặc bắt không tha, có người đi trận rồi bỏ mạng. Tất cả những người trên đối với gia đình đều coi như mất tích, và mất tích tức là chết.
Gia đình những người này tuy không làm ma, không để tang, nhưng hàng năm thường có cúng giỗ, nhưng bao giờ người ta cũng đợi một thời gian rất lâu mươi mười lăm năm hoặc phong thanh được tin người vắng mặt đã chết.
Ngày chết của người ra đi không ai biết, và cũng không căn cứ vào đâu để biết cho đích xác được. Gia đình người này lấy ngày họ ra đi để cúng giỗ. Có nhiều nhà lại xin với nhà chùa cầu kinh siêu độ cho vong hồn người mất tích.
Đã có nhiều trường hợp, những người ra đi một thời gian rất lâu không về, người nhà cho đi tìm không thấy, nên hàng năm vẫn cúng giỗ, những rồi đột nhiên một ngày kia người đó trở về. Lẽ tất nhiên là từ năm sau ngày giỗ không còn nữa. Dù sao, việc cúng giỗ những người mất tích đã chứng tỏ sự nhớ thương lưu luyến của gia đình đối với người ra đi.
Hài nhi yểu vong với ngày giỗ
Những hài nhi yểu vong chết không được cúng giỗ nếu chúng chưa hiểu biết gì. Thường tục lấy tuổi lên ba là tuổi hiểu biết. Những trẻ chết dưới tuổi này, người ta cho rằng đó chỉ là những đứa trẻ “lộn kiếp”, chúng sẽ đi “đầu thai” ngay, nhất là những trẻ sơ sinh, hữu sinh vô dưỡng. Những trẻ này có khi là tiền oan nghiệp chướng của cha mẹ nên chúng đầu thai để báo hại, gây sự buồn phiền cho gia đình.
Đối với những trẻ sinh ra được ít lâu sau mới chết, người ta còn tin rằng cha mẹ chúng kiếp trước có “nợ” chúng, nên kiếp này chúng đầu thai vào để “đòi” đủ số nợ lại ra đi. Nợ hết là chết, nên đối với những trẻ hài nhi này, sự cúng giỗ không cần.
Nhiều gia đình hiếm muộn thương con; dù chúng chết yểu dưới tuổi hiểu biết, tới ngày giỗ họ vẫn cúng để chúng khỏi trở thành những cô hồn, những ma đói, ma khát.