|
Đến cuối thập kỷ đó, lạm phát bắt đầu nhích lên. Năm 1989, Thống đốc mới của Ngân hàng Nhật Bản, Yasushi Mieno, quyết định chọc thủng bong bóng chứng khoán. Lãi suất chiết khấu được tăng ba lần trong năm đó, cụ thể là vào tháng 5, tháng 10 và vào ngày Giáng sinh, bốn ngày trước khi chỉ số Nikkei đạt mức cao nhất mọi thời đại.
¹Khi giá bất động sản tiếp tục tăng vào đầu năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản tiếp tục nâng lãi suất chiết khấu, đưa mức lãi suất này lên 6 phần trăm vào tháng 8. Khi nền kinh tế Nhật Bản rõ ràng đang chậm lại, ngân hàng trung ương đột ngột đổi hướng: từ tháng 7 năm 1991 đến tháng 9 năm 1995, lãi suất chiết khấu chính thức đã được cắt giảm từ 6 phần trăm xuống 0,5 phần trăm.
Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng Nhật Bản và tăng trưởng GDP danh nghĩa của Nhật Bản, 1985-1995.
Trong nửa sau thập niên 1980, lãi suất chiết khấu chính sách của Ngân hàng Nhật Bản được duy trì ở mức thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, qua đó tạo điều kiện hình thành “Nền kinh tế bong bóng” khét tiếng.
Tuy nhiên, việc nới lỏng chính sách tiền tệ cũng không mang lại nhiều cải thiện. Trong suốt phần còn lại của thập niên 1990, nền kinh tế Nhật Bản bị đè nặng bởi giá bất động sản sụt giảm, hệ thống ngân hàng suy yếu vì các khoản nợ xấu, mức sinh lợi của vốn giảm và tình trạng giảm phát dai dẳng, khi các công ty sử dụng đòn bẩy quá mức nhằm giảm bớt gánh nặng nợ nần.
Sau khi Nền kinh tế Bong bóng sụp đổ, Nhật Bản phải trải qua hai “thập kỷ mất mát”. Các quan chức Ngân hàng Nhật Bản sau này thừa nhận rằng chính sách tiền tệ đã góp phần thổi phồng bong bóng bằng cách tạo ra ấn tượng rằng lãi suất sẽ duy trì ở mức thấp trong thời gian dài. Họ cũng thừa nhận rằng việc không có lạm phát vào thời điểm đó đã khiến họ khó có thể phản ứng kịp thời trước bong bóng.
²Theo quan điểm của họ, bài học quan trọng nhất từ bong bóng là chính sách tiền tệ cần được điều hành với tầm nhìn dài hạn:
Ổn định giá, mục tiêu mà chính sách tiền tệ cần hướng tới, không phải là sự ổn định tại một thời điểm cụ thể nào đó mà là sự ổn định bền vững có khả năng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn. Do đó, ngay cả khi lạm phát đo được vẫn ổn định thì việc nâng lãi suất một cách kịp thời vẫn là cần thiết.
Các tác giả nói thêm rằng Ngân hàng Nhật Bản “đã có thể rút ra những thông tin hữu ích từ các dữ liệu như sự gia tăng nguồn cung tiền và tín dụng” nếu họ muốn làm như vậy. Quan điểm này được Ngân hàng Thanh toán Quốc tế tán đồng.
Các nhà kinh tế học của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế nhận định: “Trong trường hợp của Nhật Bản [vào những năm 1980], sự ổn định của giá cả trên thực tế đã khuếch đại chu kỳ kinh tế vì nó khiến các nhà hoạch định chính sách xao nhãng trước tốc độ tăng trưởng của nguồn cung tiền và tín dụng”, đồng thời cho rằng: “việc chỉ tập trung, nếu không muốn nói là đến ám ảnh, vào lạm phát giá cả rất có thể đã khiến Ngân hàng Nhật Bản không nhận ra những gì đang thật sự diễn ra trên thị trường tín dụng cũng như nguy cơ xảy ra bất ổn tài chính nếu bong bóng vỡ.”
Chú thích
¹ Vào tháng 5 năm 1989, lãi suất chiết khấu chính thức được nâng từ 2,5 phần trăm lên 3,25 phần trăm. Thông báo chính thức về tất cả các đợt tăng lãi suất trong những năm 1989 và 1990 đều tuyên bố rằng Ngân hàng Nhật Bản đang thực hiện các biện pháp phòng ngừa lạm phát. Xem Kunio Okina và các cộng sự, “The Asset Price Bubble and Monetary Policy: Japan’s Experience in the Late 1980s and the Lessons” (Bong bóng giá tài sản và chính sách tiền tệ: Bài học từ kinh nghiệm của Nhật Bản trong giai đoạn cuối thập niên 1980), Monetary and Economic Studies, tháng 2 năm 2001.
² Okina và cộng sự, “The Asset Price Bubble” (Bong bóng giá tài sản), trang 433. “Mặc dù cơ sở lý luận chính thống nhất cho việc chuyển sang chính sách tiền tệ thắt chặt là sự tồn tại của áp lực lạm phát, nhưng diễn biến giá cả cực kỳ ổn định vào thời điểm đó đã làm suy yếu đáng kể nhận thức về sự cần thiết phải nâng lãi suất.”

