“Em ơi đừng buồn đừng khóc nữa!
Xuân này ta phải tạm xa nhau
Để rồi hứa hẹn một xuân sau
Mùa xuân chiến thắng xuân thống nhất
Gia đình ta đoàn tụ thật huy hoàng”.
Đó là những dòng thơ anh Phạm Đình Thám nhắn gửi vợ trước khi lên đường vào chiến trường miền Nam. Dọc tuyến đường hành quân, anh Thám vẫn đều đặn viết thư cho chị Nguyễn Thị Minh Liên, người vợ yêu dấu của mình.
Những lá thư vượt đại ngàn Trường Sơn, chảy ngược ra Bắc, chất chứa bao niềm tin, hy vọng về ngày đất nước hòa bình của người chiến sĩ.
|
| Tác phẩm Cha tôi và những cánh thư Trường Sơn tập hợp những bức thư tay của anh Phạm Đình Thám gửi cho vợ và con. |
Các con của anh Thám đã kể lại hồi ức về cha và mối tình của cha mẹ trong cuốn sách Cha tôi và những cánh thư Trường Sơn (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).
“Đây là lời di chúc của anh”
Mùa hè năm 1967, theo tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, liệt sĩ Phạm Đình Thám (Hà Nội) xung phong nhập ngũ cho chiến dịch Mậu Thân đợt 2. Thời điểm đó, anh Thám và chị Liên đã nên duyên vợ chồng được gần 10 năm và có với nhau hai cô con gái.
Tình cảm còn đang mặn nồng thì phải chia xa, anh Thám chỉ biết đặt tâm tư vào từng con chữ nắn nót trên trang giấy học trò.
|
| Liệt sĩ Phạm Đình Thám. Ảnh chụp từ sách. |
“Anh đã xem và đọc thư của em nhiều lần, dành một đêm để suy nghĩ và mặc cho dòng lệ rơi. Em yêu! Vì nhiệm vụ mà anh phải ra đi và ra đi là anh với em cùng gặp nhiều khó khăn gian khổ. Nhưng em ơi, những hy sinh gian khổ của chúng ta hôm nay không phải là vô ích, mà chính là ta muốn cho ngày mai cuộc sống được ấm no hạnh phúc, cho gia đình đoàn tụ mãi mãi yên vui trong Tổ quốc thống nhất”.
Sau gần nửa năm huấn luyện, vào đầu năm 1968, anh Thám được về phép 10 ngày trước khi hành quân vào Nam. Đó cũng là lần cuối cùng gia đình anh quây quần đông đủ bên nhau.
Tháng ngày đoàn tụ ngắn ngủi không cách nào làm vơi đi nỗi nhớ của người phụ nữ có chồng chuẩn bị ra chiến trận. Sau này, không còn anh Thám bên cạnh, ai sẽ là người sẻ chia những nhọc nhằn cùng chị? Mỗi khi con nhớ cha, chị biết đi đâu tìm anh?
Chị Liên vẫn nhớ như in ngày tiễn chồng ra trận. Chị dẫn theo con gái lớn là Kim Thanh đến phố Văn Miếu. Nước mắt khiến tầm nhìn chị nhoè đi, chỉ còn thấy sắc xanh của màu áo lính phủ khắp con phố và lấp lánh những ánh sao vàng trên mũ. Chị và con lên xe tiễn anh Thám một đoạn. Ôm con gái vào lòng, anh cũng không ngăn được dòng nước mắt. Rồi xe đến trước cổng Văn Miếu, anh giục chị và con về.
Chị Liên đứng đó, ngóng theo đoàn xe ngày một xa, tiếng hát “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước” hào hùng của đoàn quân vọng lại bên tai.
Ngày 13/1/1968, trước khi lên đường vào Nam chiến đấu, anh Thám viết một bức thư dài cho chị Liên:
“Khi chia tay anh còn nhớ lời em nói và đây cũng là lời mơ ước của em: Ngày chiến thắng trở về, em ra đón anh sẽ thấy anh trong đoàn quân chiến thắng. Mơ ước của em cũng là niềm tin của anh”.
“Nhưng em yêu! Nếu vì nhiệm vụ của Đảng mà anh hy sinh thì em hãy bình tĩnh và hãy tự hào vì mình đã có người chồng hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Tổ quốc giao cho, góp phần giải phóng miền Nam dựng nên cảnh sống thanh bình hạnh phúc ngày hôm nay trên cả nước”.
“Toàn văn bức thư nói trên tuy ngắn gọn nhưng anh coi đây là một lá thư để lưu niệm mãi mãi về sau cho tới khi chiến thắng anh về, hay nói một cách khác đây là lời di chúc của anh”.
Chặng đường hành quân vượt Trường Sơn muôn vàn gian khổ. Anh Thám và đồng đội mỗi đêm đi từ 20 đến 30 cây số, ai cũng vác trên vai ba lô con cóc nặng 20 kg. Có ngày, anh phải leo 25 cái dốc, lội 23 con suối trong rừng xanh. Mỗi lần leo dốc như không còn hơi để thở, mỗi lần chạy như đứt từng khúc ruột.
Dẫu vậy, ngọn lửa của lý tưởng chiến đấu cho Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà luôn thắp sáng trên đường hành quân. Tình yêu của anh Thám dành cho chị Liên và hai con cũng càng thêm sâu nặng.
“Em yêu! Thanh Hóa, Nghệ An là nơi tuyến lửa nhưng nhân dân ở đây rất lạc quan cách mạng. Trước không khí ấy, anh rất cảm xúc, hình ảnh của em và hai con Thanh, Thủy lại hiện ra trước mắt anh, trong tâm trí anh, làm anh lại rưng rưng dòng lệ vì thương con”.
“...ngồi ôn lại mà sao lòng dạ xao xuyến nhớ nhung, nhớ thương mẹ con em vô hạn. Nhưng Tổ quốc đang gọi anh, miền Nam đang đợi anh, hạnh phúc tương lai của em và hai con thúc giục anh cho nên anh cứ đi và đi mãi để giải phóng miền Nam”.
Bức thư cuối cùng của anh Thám được viết vào ngày 12/4/1968, khi dừng chân ở Gia Lai. Trong thư, anh viết rằng đang xây dựng một cuốn nhật ký hành quân, sẽ kể chị Liên nghe khi đến điểm tập kết.
Anh đâu ngờ đó là cánh thư cuối cùng vượt đại ngàn Trường Sơn, thay anh hôn vợ và con. Năm 1975, “mùa xuân thống nhất” anh Thám mong chờ đã tới. Thế nhưng, anh lại ra đi quá sớm, không đợi được mùa xuân hòa bình, cũng không thể đoàn tụ với gia đình nhỏ của mình…
Mùa xuân đến muộn
Từ ngày hai người chia xa, chị Liên bắt đầu viết nhật ký. Dòng mực Cửu Long in đậm bao nỗi nhớ mong, những nhọc nhằn gian khổ của người vợ có chồng ra chiến trận. Anh Thám đi, để lại hai con nhỏ và mẹ già cho chị chăm lo.
Đêm lại đêm, một mình một bóng, chị Liên khóc thầm, như nỗi lòng của người vợ trong khúc Chinh phụ ngâm: “Ngàn dâu xanh ngắt một màu / Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”.
Ngày 30 hàng tháng trở đi trở lại trên trang giấy như tiếng tích tắc của đồng hồ, đếm từng tháng, từng tháng theo bước chân anh Thám đi. Mỗi tháng mỗi xa, biền biệt cánh nhạn không thấy về.
Nhớ mong là thế nhưng những người phụ nữ nơi hậu phương chưa khi nào nản chí. Tình yêu chồng con của họ luôn gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước.
“Biết bao lần tôi khóc thầm khi xem lại những lá thư chồng tôi viết cho tôi. Anh dặn tôi: em hãy kiên cường và kiêu hãnh, yêu đời, phát huy tính tự lực tự cường, đừng để bóng đen nào đè lên hai bông hoa của anh, anh gửi em khi nào thống nhất anh về nhé! Hãy đợi anh về”.
Cuốn nhật ký của chị Liên khép lại vào ngày 15/2/1969, khi anh Thám bằn bặt tin tức gần một năm trời. Có linh cảm rằng anh đã hy sinh nhưng chị vẫn không thôi chờ anh về.
“Hôm nay là 30 Tết rồi, anh ở đâu, anh có ăn Tết không? Có nhớ em không, nhớ con không? Anh còn hình dung lại những Tết anh ở nhà không? Anh ở trong hầm hay đi chiến đấu?
Ruột gan tôi lúc nào cũng rối bời, có bao ngày tôi phải gắng tỏ ra vui vẻ để không ảnh hưởng mọi người”.
Chị Liên không dám khóc, chỉ đành gửi nước mắt vào những dòng chữ.
“Năm canh chày thức suốt năm canh
Lòng bồn chồn thâu thâu đêm ròng rã”.
Năm 1976, lễ báo tử anh Thám diễn ra trong căn nhà ngói 16 m2 của tập thể Nhà máy Dệt 8/3. Ảnh chân dung của anh Thám trong lễ báo tử được tách ra từ bức hình chụp chung với chị Liên trong ngày tạm biệt gia đình.
Khi chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, chị Liên nghe có tin anh Thám đang ở Campuchia, thầm nuôi hy vọng anh vẫn còn sống và trở về với mẹ con chị. Biên giới Tây Nam đã bình yên, chị tìm bóng hình anh nhưng hoài không thấy. Lúc đó, chị mới tin anh đã ra đi mãi mãi.
Năm 1985, chị Liên nghe theo lời chỉ dẫn của ông Trưởng, đồng đội cùng đại đội Nhà máy Dệt 8/3 của anh Thám, lặn lội vào Long An (cũ) để tìm hài cốt của anh Thám. Thế nhưng, anh vẫn biệt tăm, chỉ có những cánh đồng mênh mông hun hút gió.
Năm 1992, chị Liên quay lại Long An dài ngày hơn, mở rộng phạm vi tìm kiếm sang những xã giáp Campuchia. Địa danh Ngã ba Thu trong thư anh gửi vẫn ám ảnh chị. Từ vùng giáp biên giới, anh đã vào Long An rồi mịt mù tăm hơi.
Mười lăm năm sau, khi đã ở tuổi gần đất xa trời, bà Liên nhận được cuộc điện thoại của ông Nguyễn Xuân Hưng, người đồng đội chứng kiến ông Thám hy sinh năm xưa. Đầu năm 2011, Kim Thanh và Bích Thủy theo ông Hưng đi Cần Giuộc để tìm hài cốt của cha mình. Khi nhận được kết quả giám định ADN là của ông Thám, bà Liên và các con như vỡ òa trong nước mắt.
Gần 40 năm trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất, bà Liên mới được gặp lại chồng ở Nghĩa trang Liệt sĩ Cần Giuộc. Dù muộn màng, mùa xuân đoàn tụ bà mong chờ cuối cùng cũng đã đến.
Sau khi đưa ông Thám về quê hương, bà nói với con gái: “Thanh đi làm lại cho mẹ cái ảnh chụp với cha con hồi ông ấy đi vào chiến trường miền Nam, rồi sau này sẽ để trên bàn thờ cả hai tấm ảnh cha mẹ trẻ như thế”.
--------------
Các thông tin trong bài được khai thác từ sách “Cha tôi và những cánh thư Trường Sơn” của nhiều tác giả (NXB Quân đội Nhân dân phát hành lần đầu năm 2012).
Bài viết có sử dụng các thao tác biên tập trong quá trình xử lý thông tin, tư liệu để nội dung được liền mạch.
Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews
Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.
Trân trọng.