
Có nhà máy, có đơn hàng nhưng vẫn thiếu tiền để sản xuất - đây là nghịch lý không hiếm ở doanh nghiệp xuất khẩu. Một trường hợp được Angels 4 Us tư vấn từng phải vận hành nhà máy ở mức 50% công suất vì thiếu vốn tài trợ đơn hàng. Trong khi đó, phần lớn khoản lỗ của các doanh nghiệp lại đến từ chi phí tài chính thay vì hoạt động kinh doanh cốt lõi.
Theo bà Phan Đình Phương Anh, Đồng sáng lập & Cộng sự, Angels 4 Us, trong bối cảnh vốn ngân hàng có giới hạn về kỳ hạn và tài sản bảo đảm, doanh nghiệp cần nhìn rộng hơn về nguồn vốn. Báo cáo tài chính kiểm toán, dữ liệu tuân thủ, ESG và vị thế ngành trong chuỗi cung ứng toàn cầu có thể trở thành cơ sở để doanh nghiệp tiếp cận vốn tài trợ và đầu tư quốc tế, thậm chí còn có khả năng cùng người mua chia sẻ một phần khoản đầu tư nâng cấp.
|
| Bà Phan Đình Phương Anh, Đồng sáng lập & Cộng sự, Angels 4 Us. Ảnh: NVCC. |
- Qua quá trình Angels 4 Us làm việc với các doanh nghiệp xuất khẩu, bà thấy có nhiều trường hợp doanh nghiệp có năng lực và đơn hàng nhưng vẫn gặp khó trong tiếp cận vốn không?
- Không hiếm, và các trường hợp gần như giống nhau. Một doanh nghiệp có nhà máy, nhưng nhà máy và thiết bị đã thế chấp cho khoản vay dài hạn để xây chính nhà máy đó, nên khi cần vốn lưu động thì không còn gì để đưa ra. Doanh nghiệp cũng có nhiều khách hàng và hợp đồng, nhưng đây không được xem là cơ sở để ngân hàng cấp vốn. Do đó, chủ doanh nghiệp phải đem nhà riêng vào bảo đảm cho khoản vay, hạn mức đơn hàng vì vậy đo bằng giá trị căn nhà.
Trong khi đó, nguyên liệu phải nhập khẩu, và ngân hàng yêu cầu ký quỹ tiền mặt để mở L/C thanh toán cho nhà cung cấp. Nhưng từ khi mở L/C đến khi hàng về tới nhà máy khoảng 45 ngày, và đơn hàng nối nhau nên luôn có vài lô cùng ký quỹ. Không thể để vốn nằm yên, doanh nghiệp buộc quay sang nhà cung cấp cho trả chậm, thường là nguyên liệu kém hơn, và trả giá bằng tiêu hao nhiều hơn, thiết bị mau hỏng hơn, chi phí xử lý chất thải cao hơn.
Quan trọng nhất, cả hai loại chi phí này ẩn trong giá vốn hàng bán. Nhìn vào báo cáo tài chính, người ta thấy một doanh nghiệp giá thành cao, lợi nhuận mỏng, thậm chí lỗ, chứ không thấy một doanh nghiệp thiếu vốn lưu động.
Và thực tế, khách hàng nước ngoài trước khi đặt đơn lớn và dài hạn đều xem năng lực tài chính của nhà cung cấp. Thấy nhà cung cấp lỗ, hoặc không biết lời lỗ ra sao, họ chọn cách chia nhỏ đơn và đặt ngắn hạn, mà như vậy thì biên lợi nhuận của doanh nghiệp càng mỏng đi. Và một doanh nghiệp đang lỗ thì càng khó vay thêm để mở rộng kinh doanh. Cứ như vậy, cái mất lớn nhất là vị thế của doanh nghiệp trong mắt người mua.
| |
- Vậy doanh nghiệp cần làm gì để giải quyết bài toán vốn này?
- Chúng tôi từng xử lý một trường hợp doanh nghiệp lỗ lũy kế nhiều năm, dư nợ lớn, nhà máy chỉ chạy 50% công suất vì thiếu tiền nhận đơn, vì vậy khoản vay đã được ngân hàng tái cơ cấu không thể cơ cấu tiếp. Đứng ở vị trí ngân hàng, quyết định ấy không sai.
Nhưng đọc lại hồ sơ thì thấy một phần đáng kể khoản lỗ đến từ chi phí vốn, không phải từ kinh doanh. Một nhà máy chạy 50% công suất không phải doanh nghiệp yếu, mà là thiếu vốn. Với ngân hàng, đó là rủi ro; nhưng với người mua nước ngoài, đó là năng lực sản xuất họ cần giữ.
Do vậy, thay vì ngần ngại đưa ra báo cáo tài chính không đẹp, doanh nghiệp cần xác định nguyên nhân gốc rễ lỗ hoặc giá thành cao. Nếu lãi gộp vẫn dương và lỗ do thiếu vốn, hoặc do kỳ hạn vay ngắn hơn chu kỳ sản xuất khiến doanh nghiệp phải xoay xở, thì đối tác quốc tế có thể đồng hành giải quyết.
Tất nhiên không phải doanh nghiệp lỗ nào cũng có thể tìm đến phương án này, điều kiện tối thiểu là doanh nghiệp phải có thứ mà đối tác quốc tế cần. Việc làm được ngay là đọc luật của nước mua hàng để biết họ cần gì, sản phẩm ngành cung cấp có giá trị ra sao với nước họ, vốn quốc tế đang tồn tại dưới hình thức nào, điều kiện tiếp cận vốn ra sao và doanh nghiệp đáp ứng được đến đâu.
Bên cạnh các hình thức quen thuộc như đầu tư, cho vay, ứng trước tiền hàng, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, ít doanh nghiệp Việt để ý rằng chính phủ nước mua hàng hoặc các nhà mua hàng lớn còn có thể triển khai các chương trình tài trợ dưới dạng hỗ trợ công nghệ, thiết bị, tiết kiệm năng lượng, xử lý môi trường, cử chuyên gia, hoặc làm dự án thực chứng ngay tại nhà máy.
Nhìn bề nổi là hỗ trợ kỹ thuật, nhưng bản chất là đối tác trả thay khoản đầu tư mà lẽ ra doanh nghiệp phải đi vay để trả, và trả đúng cho những hạng mục giúp hạ giá thành, tăng hiệu suất, hoặc gỡ tiêu chuẩn đang chặn đơn hàng.
Đối tác quốc tế thực sự chi trả những khoản này vì lợi ích của họ. Còn với một doanh nghiệp xuất khẩu đã lỗ lũy kế và dư nợ lớn, đây là loại vốn duy nhất không làm áp lực tài chính nặng thêm.
- Bà cho rằng điều kiện tối thiểu là doanh nghiệp phải có thứ mà đối tác quốc tế cần. Thực tế, ngoài vấn đề mặt hàng, có thể thấy ESG đang trở thành một yêu cầu bắt buộc tại nhiều thị trường, nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn cho rằng đây là bài toán khó triển khai và tốn kém. Với nguồn lực có hạn, doanh nghiệp nên bắt đầu từ đâu?
- Nói một cách đơn giản, với các doanh nghiệp xuất khẩu, ESG là cho thấy mình sản xuất sạch, không gây hại môi trường, đối xử đúng với người lao động, cộng đồng và điều hành minh bạch, công bằng với khách hàng, đối tác, nhà cung cấp, nhà đầu tư. Người mua không còn chỉ mua cái ta làm, mà còn muốn biết ta làm ra bằng cách nào, vì họ chịu trách nhiệm trước luật nước họ.
Thực chất doanh nghiệp nào cũng đang làm những việc này, vì chúng nằm trong quy định của nhà nước sở tại, vấn đề chỉ là ghi nhận bằng minh chứng cụ thể. Lộ trình nên là xác định luật nào đang ràng buộc doanh nghiệp và ngành, ràng buộc ra sao, sau đó làm dữ liệu và báo cáo. Và điều quan trọng là dữ liệu phải đi cùng lô hàng.
- Nhưng ai trả tiền cho bộ dữ liệu đó? Người mua nước ngoài có sẵn sàng chia sẻ một phần chi phí không?
- Có, nhưng gần như không bao giờ qua bàn đàm phán giá, vì bộ phận mua hàng được đánh giá bằng giá. Trong khi đó, nhà mua hàng quốc tế có thể có ngân sách cho chương trình phát triển nhà cung cấp. Ngoài tiền mặt, những hình thức ít bị từ chối hơn là kéo dài hợp đồng để chi phí đầu tư kịp khấu hao, cam kết sản lượng tối thiểu, trả trước một phần tiền hàng, hoặc người mua trả phí đánh giá của bên thứ ba.
Tuy nhiên, cần lập luận rõ dữ liệu tuân thủ của ta chính là thứ người mua cần cho hồ sơ của họ, từ phát thải trong chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc, đến điều kiện lao động. Thiếu nó, họ không hoàn thành được nghĩa vụ công bố và không giữ được hợp đồng bán lẻ. Nghĩa là khoản chi ta gánh một mình hóa ra lại là tài sản của họ, mà khoản chi phục vụ cả hai bên thì không còn là khoản một bên tự chịu.
Vì vậy, doanh nghiệp cần đặt lên bàn đàm phán 3 chỉ tiêu cụ thể, gồm chi phí thật để tạo ra bộ dữ liệu; bộ dữ liệu phục vụ đúng nghĩa vụ nào của nhà mua hàng; và cái họ mất nếu không có bộ dữ liệu.
Nhưng lập luận này chỉ có sức nặng khi người mua thấy khó thay thế ta. Đối thủ thật của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp bên cạnh mà là các nước khác đang cùng cung cấp mặt hàng, ví dụ với tôm là Ecuador, Ấn Độ, Indonesia. Khi cả ngành có bức tranh rõ về giá trị và nút thắt, ta không còn là bên xin hỗ trợ mà là nguồn cung cần giữ.
| |
- Bà nói khi cả ngành có bức tranh rõ, ta không còn là bên xin hỗ trợ. Bức tranh ấy thay đổi cơ hội đầu tư như thế nào?
- Nó lật ngược cách nhìn. Nút thắt của người này chính là cơ hội của người kia, nhưng chỉ khi được đo bằng số.
Lấy con tôm làm ví dụ. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam do gần nửa triệu hộ nhỏ nuôi, và 7 trên 10 hộ không vay được ngân hàng, nên phải mua chịu thức ăn cho tôm, đến cuối vụ mới trả tiền. Cùng một bao thức ăn, trả ngay 29.000 đồng/kg, nhưng mua nợ thì giá 34.000-38.000 đồng/kg, tức đắt hơn 17-31% cho một vụ 3-4 tháng; nuôi 2 vụ/năm thì tương đương lãi vay 25-70%.
Trong khi đó, người dân gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng nhận 6-7%, gửi hàng nghìn tỷ với lãi suất đặc biệt cũng chỉ 9-10%. Người nghèo nhất trong chuỗi đang trả giá vốn đắt nhất, chỉ để mua thức ăn cho tôm.
Khoảng cách giữa 7% và 25-70% là cơ hội đầu tư đủ rộng để mọi bên cùng lợi. Người có tiền có thể cấp vốn và thu về lợi nhuận cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm. Người nuôi mua được thức ăn gần giá tiền mặt, có điều kiện nuôi tốt hơn, từ đó giá thành hạ, giúp tôm Việt Nam cạnh tranh hơn và người tiêu dùng có tôm sạch hơn.
| |
- Vậy nếu một doanh nghiệp xuất khẩu muốn bắt đầu chuẩn bị ngay hôm nay để 2-3 năm tới có thể tiếp cận nguồn vốn quốc tế, bà có lời khuyên nào cho họ không?
- Việc đầu tiên không phải là hồ sơ của một doanh nghiệp, mà là bức tranh của ngành. Cùng bức tranh ấy trả lời cho cả ba bên: Đối tác quốc tế thấy cơ hội đằng sau nút thắt, doanh nghiệp biết chính xác cần chuẩn bị gì, và cơ quan quản lý có căn cứ khách quan đến từ luật nước mua để xem xét các biện pháp về kỳ hạn.
Từ phía doanh nghiệp, việc có thể làm ngay là rà soát tổng hợp dữ liệu tuân thủ, có thể chưa đầy đủ nhưng là nền tảng để xây dựng lộ trình tuân thủ, được kiểm chứng được bởi bên thứ ba, trong những năm tiếp theo. Song song, doanh nghiệp nên duy trì báo cáo tài chính kiểm toán nhất quán qua các năm, cũng như chuẩn bị hồ sơ để dòng vốn quốc tế vào ra đúng thủ tục, gồm cơ cấu sở hữu, giao dịch với bên liên quan, thủ tục vay nước ngoài.
- Xin cảm ơn bà!