Phủ nhận
Giống như dồn nén, khái niệm phủ nhận đã trở thành một cơ chế phòng vệ chủ đạo. Hầu hết mọi người đều hiểu khi ai đó “phủ nhận” một điều gì đó nghĩa là gì. Thuật ngữ này thường xuất hiện trong các chương trình truyền hình và phim Hollywood, hay kể cả Pet Shop Boys - nhóm nhạc pop nổi tiếng Vương quốc Anh trong thập niên 80 - 90, cũng đã sáng tác một bài hát với tiêu đề này.
Người ta thậm chí còn đùa cợt, chơi chữ dựa trên sự giống âm với sông Nile. Chính vì sự phổ biến quá mức này mà khái niệm phủ nhận đôi khi trở nên tầm thường, thậm chí gây khó chịu. Nhưng thực chất, phủ nhận lại là một sức mạnh tâm lý vô cùng lớn lao.
Hầu như tất cả các nhà trị liệu tâm lý đều công nhận sự tồn tại của nó, cho dù họ có coi trọng nó trong nghiên cứu và chẩn đoán lâm sàng hay không. Trong lí thuyết về 5 giai đoạn của sự đau buồn, Elisabeth Kübler-Ross đã định nghĩa về sự phủ nhận giống như giai đoạn đầu của trải nghiệm đau buồn ấy.
|
| Phủ nhận nhận thức của bản thân là cơ chế phòng vệ tự nhiên của con người. Ảnh: Beliefs of the heart. |
Nếu các bạn đã biết chương trình cai nghiện 12 bước của tổ chức Alcoholics Anonymous, các nhà nghiên cứu đã thúc đẩy nhận thức về sự chấp nhận và phủ nhận: Một bước căn bản trong việc vượt qua nghiện ngập là thừa nhận mình là người nghiện, thay vì tiếp tục phủ nhận điều đó.
“Bạn đang phủ nhận” là điều mà hầu hết mọi người đều từng gặp phải ở thời điểm hiện tại, hay một lúc nào đó trong cuộc đời của mình. Câu nói này thường ám chỉ việc bạn phủ nhận một sự thật: “Bạn đang phủ nhận chuyện Jane sẽ được thăng chức, không phải bạn.” Hoặc “Anh ấy sẽ không bao giờ bỏ vợ” là bạn chỉ đang tự dối mình thôi. Nói một cách đơn giản nhất, có một sự thật tồn tại, một sự thật mâu thuẫn với mong muốn hoặc niềm tin trong bạn, vì vậy bạn phủ nhận điều đó là đúng.
Chúng ta cũng có thể phủ nhận một cảm giác, đặc biệt là nếu chúng ta đã nhận được những thông điệp từ văn hóa ứng xử hay từ cha mẹ rằng những cảm xúc bạn có là không thể chấp nhận được. Nhờ có sự phủ nhận ấy mà bạn có thể che giấu sự tồn tại của những cảm xúc đó với người khác, thậm chí với chính mình.
“Tôi không thấy giận vì bạn lại quên sinh nhật của tôi đâu”, hoặc “Không, tôi không đố kị với Envy. Thế nào mới là đố kị?” Trong lần đầu tiên cố gắng giúp cho thân chủ của tôi là Olivia nhận ra sự tức giận vô thức của mình, cô ấy đã nói với tôi rằng tôi đã sai và phủ nhận điều đó suốt một thời gian dài.
Trong học thuyết phân tâm cổ điển của Freud, sự tồn tại của xung đột là động lực thúc đẩy sự phủ nhận (và các cơ chế phòng vệ khác): Một thực tế xung đột với mong cầu trong con người, hoặc một cảm giác xung đột với các giá trị của người đó nên họ phủ nhận nó.
Tôi có một người bạn thân, trong suốt quãng đời từ thuở niên thiếu đến năm 20 tuổi, anh ấy nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ là người đồng tính. Anh đã phủ nhận xu hướng tính dục của bản thân vì nó xung đột với nền giáo dục tôn giáo anh nhận được, cũng như những thông điệp tiêu cực về đồng tính luyến ái mà xã hội đã gieo rắc vào anh từ thời thơ ấu.
Mặc dù vai trò của xung đột trong việc kích thích tâm lý phòng vệ chắc chắn là quan trọng, nhưng tôi tin rằng nỗi đau còn đóng vai trò quan trọng hơn. Như người bạn của tôi, chỉ riêng ý nghĩ rằng mình có thể đồng tính đã khiến người bạn của tôi đau đớn; sự xung đột giữa bản sắc giới tính và các giá trị tôn giáo đã làm anh ấy khổ sở. Đối với Olivia (cũng như mọi người), tức giận là một sự tổn thương. Sự xung đột giữa cơn giận của bản thân và những giá trị gia đình được thừa hưởng, coi cảm xúc tức giận đó là “tồi tệ” và khiến cô tổn thương.
Phủ nhận nhận thức
Bất cứ khi nào bạn phủ nhận, dù cảm giác hay sự thật, là bạn đang phủ nhận nhận thức của chính mình. Nói cách khác, bằng cách sử dụng cơ chế phòng vệ đặc biệt này, bạn đã phủ nhận những gì mình thực sự hiểu biết ở một mức nào đó.
Do vậy, một cách tự nhiên, bạn tự chia tách nhận thức và phủ nhận một phần của nó. Điều này vẻ như là một quyết định có ý thức, nhưng ngược lại, tất cả các cơ chế phòng vệ đều diễn ra theo một cách vô thức hay nó nằm ngoài nhận thức của bạn. Nếu thực biết mình đang làm gì, chắc chắn cơ chế phòng vệ của bạn sẽ vô hiệu!
Đây là một ví dụ khác. Trong bộ phim Heartburn (Trái tim bùng cháy) năm 1986, một ngày nọ Rachel Samstat đến tiệm làm tóc, cô ấy nghe được câu chuyện về một người phụ nữ khác, người này không nhận ra những dấu hiệu cho thấy chồng mình ngoại tình.
Bỗng Rachel thở hổn hển, sững sờ trong nỗi kinh hoàng: Hình như cô ấy cũng đang cố gắng phủ nhận việc anh chồng Mark không chung thủy, nhưng cô lại cố tỏ ra rằng gia đình mình hạnh phúc với mọi người xung quanh.
Khi cô ấy nghe câu chuyện của người thợ làm tóc, cơ chế phòng vệ trong cô dường như vụn nát và sự thật đau đớn mà cô né tránh bùng nổ trong ý thức.