|
|
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Toàn quyền New Zealand Dame Cindy Kiro ngày 13/8. Ảnh: TTXVN. |
“Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”.
(Chế Lan Viên, Tiếng hát con tàu - tập thơ Ánh sáng và phù sa, 1960)
Đó là hai câu thơ của Chế Lan Viên được Toàn quyền New Zealand Dame Cindy Kiro nhắc lại trong cuộc hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hôm 13/8 tại Auckland (New Zealand).
Theo bà, tinh thần của hai câu thơ cũng có thể được nhìn thấy ở cộng đồng người Việt tại New Zealand. Dù đã chọn nơi đây làm quê hương thứ hai, họ vẫn giữ sự gắn bó với Việt Nam, đồng thời đóng góp cho xã hội New Zealand bằng năng lực, kinh nghiệm và những câu chuyện về một Việt Nam đang phát triển.
Chế Lan Viên biến trải nghiệm thành suy tưởng
Bài thơ Tiếng hát con tàu nói riêng, tập thơ Ánh sáng và phù sa năm 1960 là cột mốc trong sự nghiệp của nhà thơ Chế Lan Viên, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu khoa học.
Theo quyển Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tưởng (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2009) của PGS.TS Nguyễn Bá Thành, nhà thơ Chế Lan Viên có khả năng tạo ra những hình ảnh, biểu tượng vừa cụ thể, sinh động vừa mở ra những tầng nghĩa trừu tượng. Trong Tiếng hát con tàu, đặc điểm này thể hiện rõ qua cách nhà thơ xây dựng hình tượng “con tàu”, “Tây Bắc” và đặc biệt là “đất”.
|
| Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tưởng (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2009) của PGS.TS Nguyễn Bá Thành. |
Trong bài thơ, Tây Bắc trước hết hiện lên qua nỗi nhớ về những nơi chốn và con người mà nhà thơ từng gắn bó. Từ những hình ảnh cụ thể, Chế Lan Viên mở rộng thành những suy ngẫm về tình cảm và ký ức. Một vùng đất được nhận biết bằng vị trí địa lý lẫn dấu ấn nó để lại trong tâm hồn con người.
Chế Lan Viên viết: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ / Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương? / Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở, khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!”.
Ở đây, “đất” có một đời sống khác khi đi qua tâm hồn con người. Lúc đang ở, đó là một không gian cụ thể; khi đã rời đi, nơi chốn ấy được lưu giữ bằng ký ức, tình yêu và trải nghiệm. Đất vì thế vừa là nơi chốn, vừa là phần ký ức đã được nội tâm hóa.
Theo PGS.TS Nguyễn Bá Thành, từ một hình ảnh cụ thể, Chế Lan Viên thường mở ra một ý niệm rộng hơn. Những hình ảnh như “con tàu”, “Tây Bắc”, “ánh sáng”, “phù sa” vì vậy có tính biểu tượng. Đây là cách nhà thơ đưa những trải nghiệm cụ thể của đời sống vào một thế giới giàu suy tưởng.
Điều này cũng thể hiện ở cách Chế Lan Viên đặt cái riêng trong mối quan hệ với những không gian lớn hơn. Ông viết: “Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp / Tàu gọi anh đi, sao chưa ra đi? / Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”. Những hình ảnh đối lập trong đoạn thơ không chỉ tạo cảm xúc mà còn đặt ra một suy ngẫm về nguồn sống của thơ ca.
“Đất nước mênh mông” và “đời anh nhỏ hẹp”, từ đó, chuyến đi trở thành quá trình mở rộng nhận thức, để những gì nhà thơ trải nghiệm trong đời sống có thể được chuyển hóa thành hình ảnh và suy tưởng. Đây chính là một trong những đặc điểm làm nên phong cách thơ Chế Lan Viên mà PGS.TS Nguyễn Bá Thành phân tích.
Chế Lan Viên đi tìm lại “vàng” của hồn thơ
Theo PGS.TS Đoàn Trọng Huy, Trường đại học Sư phạm TP.HCM, trong bài viết Chế Lan Viên: Người một đời đi tìm cái tôi - bản lĩnh nghệ thuật, Tiếng hát con tàu đánh dấu một bước chuyển trong đời sống nghệ thuật của Chế Lan Viên. Bài thơ xuất hiện khi nhà thơ hướng đến một hiện thực rộng lớn hơn, tìm kiếm những chất liệu mới cho sáng tác.
|
| Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989). Ảnh: Tư liệu. |
Đoàn Trọng Huy gọi đó là một cuộc “viễn du” của tâm hồn. Ông viết: “Tiếng hát con tàu chính là tiếng hát tâm hồn đồng hành trong cuộc viễn du để khai thác những quặng vỉa đời sống mới cho sáng tạo thơ ca” để nhà thơ có thể cùng reo ca Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát. “Con tàu” vì vậy trở thành hình ảnh của một hành trình nghệ thuật mà nhà thơ chủ động tìm đến để làm mới thơ ca.
Hành trình này cũng gắn với việc Chế Lan Viên nhìn lại chính mình. Theo PGS.TS Đoàn Trọng Huy, đó là việc “mở tung cuộc đời nhỏ hẹp và lòng người đóng khép, để bứt phá ra đi, vượt lên mình”. Sự thay đổi nằm ở cách nhà thơ xác lập lại vị trí của mình trước cuộc đời và nghệ thuật.
Điểm đến của hành trình này được Đoàn Trọng Huy khái quát bằng hình ảnh “vàng”: “Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa / Nay trở về, ta lấy lại vàng ta". Đó là vàng của hồn thơ, vàng của lòng tin và bản lĩnh nghệ thuật.
Đặt quá trình này trong dòng chảy thơ Chế Lan Viên, Đoàn Trọng Huy cho rằng những năm 1960 mở ra một hướng đi mới. Ông viết: “Ngoảnh lại mười lăm năm so sánh hai con sông thơ thời xưa sông Mã, sông Thương cũng là để xác định dòng chảy cho thơ mình từ những năm 60”. Theo nhà nghiên cứu, năm 1960 cũng mở ra cho Chế Lan Viên một “khai thông mới” với Ánh sáng và phù sa.
Một đặc điểm khác của giai đoạn này là khả năng đưa cảm xúc đến với những suy tưởng rộng hơn. Đoàn Trọng Huy nhận xét Chế Lan Viên có “năng lực đặc biệt trong việc xây dựng những ý tưởng mới lạ”, vì thế cảm xúc thơ thường thấm đẫm suy tưởng. Viết về Tổ quốc, nhà thơ đồng thời suy ngẫm về chiến thắng, sự hy sinh, sức mạnh của con người và sức sống của truyền thống.
Theo ông, Tiếng hát con tàu vì vậy có thể được đọc như một dấu mốc trong hành trình Chế Lan Viên xác lập lại bản lĩnh nghệ thuật. Nếu “con tàu” là hình ảnh của sự lên đường thì “vàng” của hồn thơ, lòng tin là thứ nhà thơ muốn tìm lại sau hành trình đó. Đây cũng là một cách lý giải nguyên nhân bài thơ vừa mang dấu ấn của một thời kỳ lịch sử, vừa cho thấy nỗ lực không ngừng làm mới chính mình của Chế Lan Viên.
Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews
Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.
Trân trọng.