|
|
Khi quá tập trung vào những gì đã biết, chúng ta dễ đánh giá sai vấn đề và bỏ qua những trường hợp tương tự bên ngoài. Ảnh: Mikhail Nilov/Pexels. |
Trong một thế giới mơ hồ, việc dựa vào kinh nghiệm từ một lĩnh vực không chỉ hạn hẹp, mà còn có thể gây thảm họa.
Vấn đề của việc chỉ sử dụng một phép so sánh tương đồng, đặc biệt là từ một tình huống rất quen thuộc, là nó không giúp ngăn lại sự thôi thúc tự nhiên của việc áp dụng “góc nhìn từ bên trong nội bộ”, một thuật ngữ được nêu ra bởi nhà tâm lý học Daniel Kahneman và Amos Tversky. Chúng ta áp dụng góc nhìn từ bên trong khi chúng ta đưa ra các đánh giá đơn thuần dựa trên những chi tiết của một dự án cụ thể ngay trước mắt.
Kahneman có một kinh nghiệm cá nhân với những tác hại nguy hiểm của góc nhìn từ bên trong nội bộ, khi ông tập hợp một nhóm để viết sách giáo khoa cho trường cấp ba về chủ đề khoa học của quá trình ra quyết định. Sau một năm trời họp hàng tuần, ông khảo sát toàn bộ nhóm để tìm hiểu xem mọi người nghĩ dự án nên kéo dài bao lâu. Thời gian ước lượng thấp nhất là một năm rưỡi, cao nhất là hai năm rưỡi. Sau đó Kahneman hỏi một thành viên trong nhóm tên là Seymour, chuyên gia viết sách giáo khoa xuất sắc vốn đã chứng kiến quá trình tương tự với các nhóm khác, rằng so với các dự án khác thì dự án này như thế nào.
|
| Càng hiểu rõ một vấn đề, con người càng dễ quyết định dựa vào phán đoán của mình, bỏ qua những hoài nghi xung quanh. Ảnh: Studio Cottonbro/Pexels. |
Seymour suy nghĩ một lúc. Một vài phút trước đó ông ấy đã ước tính nó mất khoảng hai năm nữa. Đối diện với câu hỏi của Kahneman về các nhóm khác, ông nói rằng ông thậm chí chưa bao giờ nghĩ đến việc so sánh tương đồng ở trường hợp này với các dự án riêng biệt, nhưng ông thấy rằng có khoảng 40% nhóm không bao giờ hoàn thành công việc, và không có người nào ông biết hoàn thành nó trước bảy năm.
Nhóm của Kahneman không sẵn sàng bỏ ra thêm sáu năm nữa cho một dự án sách giáo khoa có nguy cơ thất bại. Họ dành ra vài phút tranh luận về ý kiến mới, và quyết định tiến lên phía trước với niềm tin vào sự thông thái của nhóm cho rằng mất-khoảng-hai-năm. Tám năm sau, họ hoàn thành, lúc đó Kahneman thậm chí không còn ở trong nhóm hay sống ở trong nước, và cơ quan đặt hàng sách giáo khoa cũng không còn quan tâm nữa.
Xu hướng tự nhiên của chúng ta khi áp dụng góc nhìn từ bên trong có thể bị đánh bại bằng cách làm theo biện pháp so sánh tương đồng theo “góc nhìn bên ngoài”. Góc nhìn bên ngoài thăm dò những điểm tương đồng về mặt cấu trúc sâu đối với vấn đề hiện tại trong những vấn đề khác nhau. Góc nhìn bên ngoài cực kỳ không như mong đợi bởi vì nó yêu cầu người ra quyết định phải bỏ qua những đặc điểm đặc thù ở về ngoài của dự án hiện tại mà họ vốn là chuyên gia, và thay vào đó phải nhìn ra bên ngoài để tìm kiếm những biện pháp so sánh tương đồng về mặt cấu trúc. Nó yêu cầu một sự thay đổi tư duy từ hẹp sang rộng.
Trong một thí nghiệm độc đáo vào năm 2012, giáo sư chiến lược kinh doanh của Đại học Sydney - Dan Lovallo - người đã triển khai nghiên cứu góc nhìn bên trong cùng với Kahneman – cùng với hai nhà kinh tế nêu ra giả thuyết rằng việc khởi động bằng cách thực hiện rất nhiều sự so sánh tương đồng đa dạng, theo phong cách của Kepler, sẽ tự nhiên đạt được góc nhìn bên ngoài và cải thiện quá trình ra quyết định.
Họ mời các nhà đầu tư từ các quỹ đầu tư tư nhân lớn tham gia nghiên cứu. Lovallo vẫn đang cân nhắc một số lượng lớn các dự án tiềm năng từ rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng công việc của các nhà đầu tư đương nhiên đem lại góc nhìn bên ngoài.
|
| Đôi lúc những quyết định mà bản thân tin tưởng lại dẫn đến sai lầm. Ảnh: Anna Tarazevich/Pexels. |
Các nhà đầu tư của quỹ đầu tư tư nhân được yêu cầu đánh giá một dự án thật mà họ đang nghiên cứu với một bảng mô tả chi tiết các bước dẫn đến thành công, và dự đoán lợi tức đầu tư của dự án. Sau đó họ được yêu cầu viết ra một loạt các dự án đầu tư mà họ biết vốn có những tương đồng lớn về mô hình rộng với dự án của họ - chẳng hạn như những ví dụ khác về một chủ doanh nghiệp đang tìm cách bán, hoặc một công ty khởi nghiệp với một sản phẩm công nghệ đầy rủi ro. Họ cũng được chỉ thị phải ước tính lợi tức đầu tư của mỗi một dự án trong các ví dụ đó.
Cuối cùng, các nhà đầu tư ước tính rằng lợi tức từ dự án của chính họ cao hơn khoảng 50% so với những dự án bên ngoài vốn được họ xác định là tương đồng về mặt mô hình. Khi được tạo cơ hội lần cuối để suy nghĩ lại và điều chỉnh, họ đã gạch bỏ các ước tính ban đầu của mình. “Họ dường như bị sốc,” Lovallo báo tôi, “và những người cấp cao hơn là những người bị sốc nhiều nhất.” Các nhà đầu tư thoạt tiên đánh giá dự án của họ, bởi họ biết tất cả chi tiết, hoàn toàn khác những dự án tương tự mà họ là người ngoài.
Đây là một hiện tượng phổ biến. Nếu bạn được yêu cầu dự đoán liệu một con ngựa cụ thể nào đó sẽ thắng cuộc đua hay không hoặc một nhà chính trị gia nào đó sẽ thắng cuộc bầu cử, thì khi biết càng nhiều chi tiết nội bộ về một tình huống cụ thể nào đó - ví dụ như những đặc điểm thể lực của một con ngựa cụ thể, gia thế và chiến lược của một chính trị gia - bạn càng dễ phát biểu rằng kịch bản mà bạn đang nghiên cứu sẽ diễn ra.
Các nhà tâm lý học đã chứng minh rất nhiều lần rằng một người càng biết nhiều chi tiết nội bộ để xem xét, sự phán đoán của họ càng trở nên cực đoan hơn.
Đối với các nhà đầu tư mạo hiểm, họ biết nhiều chi tiết về dự án của họ, và phán đoán rằng nó sẽ cực kỳ thành công, cho đến khi họ buộc phải xem xét những dự án khác với sự tương đồng về mô hình rộng.
Trong một ví dụ khác, sinh viên đã xếp hạng một đại học tốt hơn nhiều nếu có người bảo họ rằng một số những khoa Khoa học cụ thể được đánh giá là nằm trong Top 10 quốc gia, so với khi họ chỉ đơn thuần được cho biết là mọi khoa Khoa học tại trường đại học đều được đánh giá nằm trong Top 10.
Trong một nghiên cứu nổi tiếng, người tham gia đánh giá một cá nhân có khả năng tử vong cao do “bệnh tim, ung thư, hoặc từ những nguyên nhân tự nhiên” hơn là từ “những nguyên nhân tự nhiên”. Tập trung ít vào chi tiết cụ thể của một vấn đề nằm trong tầm tay đem lại cảm giác đó chính xác là việc đúng cần làm, trong khi nó thường sai.