|
| Nhà báo Lê Văn Nuôi nguyên là Chủ tịch Tổng đoàn học sinh Sài Gòn, Đại biểu Quốc hội khóa VI, Bí thư Thành Đoàn TP.HCM, Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ. Ảnh: NVCC. |
"Lần đầu tiên tôi nghe gọi tên thành phố Hồ Chí Minh là vào khoảng 1h sáng ngày 1/5/1975 tại nhà tù Côn Đảo", nhà báo Lê Văn Nuôi - nguyên Chủ tịch Tổng đoàn học sinh Sài Gòn, Đại biểu Quốc hội khóa VI, Bí thư Thành Đoàn TP.HCM, Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ - nhớ lại.
Nửa thế kỷ sau khoảnh khắc đó, ông xuất bản tác phẩm Có một Sài Gòn tử tế, từ tâm. Nhân kỷ niệm 50 năm thành phố mang tên Bác (2/7/1976-2/7/2026), ông chia sẻ với Tri Thức - Znews về những con người, ký ức và phẩm chất mà ông tin là "hồn cốt" của thành phố.
Tử tế là hồn cốt của TP.HCM
- Vì sao ông chọn tên sách là "Có một Sài Gòn tử tế, từ tâm"? Theo ông, những phẩm chất “tử tế” và “từ tâm” của thành phố này được hình thành từ đâu và đã được bồi đắp như thế nào qua hành trình lịch sử của thành phố?
- Tôi chọn tên sách là Có một Sài Gòn tử tế, từ tâm do tựa đề này khái quát được nội dung sách. Sách có ba chủ đề nhỏ: Sài Gòn xưa; Sài Gòn dấn thân và Duyên nợ cầm bút và Sài Gòn đương thời.
Sài Gòn là thành phố mang dấu tích mở cõi từ năm 1689, đến nay thành phố đã gần hơn 300 tuổi (1689-2026); từ thời hàng vạn lưu dân từ mọi miền đổ về khai phá, khẩn hoang đất phương Nam; dần kiến tạo vùng đất Gia Định xưa thành nơi giao thương nhộn nhịp và giao thoa nhân chủng học.
Phẩm chất tử tế và từ tâm chính là một phần của di sản, hồn cốt quý giá nhất của thành phố này.
Ông Lê Văn Nuôi, nguyên Chủ tịch Tổng đoàn học sinh Sài Gòn - nguyên Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ
Tôi sinh ra, lớn lên, đi học tại Sài Gòn, đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho lý tưởng bảo vệ quê hương, đã sát vai chiến đầu cùng nhiều đồng đội và được các tầng lớp đồng bào che chở. Tôi cảm thấy cuộc đời mình như định mệnh gắn liền với thành phố Sài Gòn - TP.HCM này.
Qua hơn 70 năm làm chứng nhân trong dòng lịch sử thăng trầm của thành phố, tôi cảm nhận người Sài Gòn - TP.HCM có những phẩm chất nổi bật là: giàu lòng yêu nước, giàu nghĩa khí, cương trực; giàu lòng tử tế, từ tâm. Những phẩm chất đáng quý đó thể hiện trong thời chiến lẫn thời bình. Tôi thích “lẫy” ra hai phẩm chất “ tử tế” và “từ tâm” để đặt tên cho sách này.
Bởi phẩm chất “tử tế, từ tâm” của người Sài Gòn - TP.HCM gắn liền với gần 300 trang sách viết về một Sài Gòn - TP.HCM với lớp lớp thanh niên, sinh viên học sinh và người trí thức dấn thân trên đường phố vì khát vọng tự do, hòa bình; đó là một Sài Gòn - TP.HCM với những tờ báo và ngòi bút lửa; đó là những suy tư, cảm xúc về mái trường, về đồng đội đã ngã xuống, về xóm nhỏ, về mái ấm gia đình, về những đứa trẻ bán hàng rong nghèo khổ, về một người mẹ “ lấy cắp xác con” trong bệnh viện…
- Trong cuốn sách, ông kể về rất nhiều con người ở nhiều hoàn cảnh khác nhau, từ những người lao động bình thường, đồng đội, thầy cô đến các nhà báo, văn nghệ sĩ. Khi đặt tất cả những câu chuyện ấy cạnh nhau, ông muốn người đọc nhìn thấy điều gì về con người Sài Gòn - TP.HCM?
- Khi đặt tất cả những câu chuyện về những con người - đề cập trong sách - cạnh nhau, tôi muốn chiêm nghiệm, lý giải với người đọc những phẩm chất tử tế và từ tâm chính là một phần của di sản, hồn cốt quý giá nhất của thành phố này.
|
| Từ phải sang: Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhà báo Võ Như Lanh và nhà báo Lê Văn Nuôi. Ảnh: Báo Tuổi Trẻ. |
Một thành phố mang nhiều mối lương duyên
- Nếu chọn vài gương mặt tiêu biểu để kể cho độc giả hôm nay về người Sài Gòn - TP.HCM, ông sẽ kể về ai và vì sao?
Vài gương mặt tiêu biểu tôi rất ngưỡng mộ và đã viết về họ trong sách này - là các ông Võ Văn Kiệt, nhà báo Trần Bạch Đằng và giáo sư Trần Kim Thạch. Bởi họ là những người đã sống, chiến đấu , đã cống hiến cả cuộc đời vì sự sinh tồn và phát triển, thăng hoa của thành phố này xuyên suốt hai thời kỳ chiến tranh và hòa bình - trước và sau năm 1975. Vì theo cảm nhận của tôi:
Ông Võ Văn Kiệt (1922-2008), tên thường gọi: Sáu Dân - cựu Thủ tướng Chính phủ, cựu Bí thư Thành ủy TP.HCM, là một nhà lãnh đạo kiệt xuất.
Nhiều năm gần gũi ông Kiệt qua công tác thanh niên và làm báo, tôi ngưỡng mộ và học hỏi ở ông nhiều phẩm chất như: Có tầm nhìn chiến lược trong việc đề ra những mục tiêu, dự án phát triển thành phố và cả nước một cách táo bạo, đột phá; Có phong cách lãnh đạo quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm người đứng đầu; Có quan điểm bao dung và chính sách quy tụ, sử dụng nhân tài, trí thức, không phân biệt lý lịch và nguồn gốc đào tạo từ Âu, Mỹ hay nước nào, miễn là những trí thức, nhân tài này thật tâm phụng sự công cuộc tháo gỡ khó khăn và phục hồi, phát triển kinh tế, đời sống của thành phố và đất nước.
Ông Trần Bạch Đằng (1926-2007) - tên thật: Trương Gia Triều - cựu Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, nhà văn, nhà báo. Ngoài quá trình hoạt động cách mạng lẫy lừng từ thời thanh niên, ông còn là nhà văn, nhà báo có bút lực dồi dào, đã sáng tác hàng chục tác phẩm văn học, kịch bản phim, công trình biên khảo và hàng nghìn bài báo. Nổi tiếng nhất là bộ tiểu thuyết tình báo và kịch bản bộ phim cùng tên Ván bài lật ngửa, với bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý.
Từ sau năm 1975, tôi thường xuyên gặp ông Trần Bạch Đằng qua công tác Đoàn thanh niên; công việc làm báo Tuổi Trẻ và viết sách biên khảo. Tôi gọi ông là “một ngòi bút lửa”; tôi luôn xem ông là một người thầy về tư duy và văn phong trong nghề cầm bút, làm báo. Trong tập sách này, tôi đã viết một bài ký về ông Trần Bạch Đằng, một ngòi bút lửa.
|
| Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (bên trái) và nhà báo Trần Bạch Đằng (bên phải) về thăm lại căn cứ cũ, chiến trường xưa tại huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Tư liệu của Thành ủy TP.HCM. |
GS.TS Trần Kim Thạch (1937-2009). Ông là một trong những nhà địa chất học hàng đầu của Việt Nam. Năm 1964, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Đại học Reading - Anh quốc; Từ năm 1964-1974, ông giảng dạy và làm Trưởng ban Địa chất tại Khoa học Đại học đường Sài Gòn. Ông là người có công lớn trong việc đặt nền móng nghiên cứu, giảng dạy và phát triển hiệu quả ngành địa chất học tại miền Nam Việt Nam liên tục trong suốt 45 năm (1964-2009).
Từ những năm 1980, GS Thạch đã sát cánh cùng ông Võ Văn Kiệt suốt những cuộc hành trình băng rừng vượt thác để khảo sát địa chất và tìm vị trí xây dựng thủy điện Trị An, nhằm giải quyết tình trạng thiếu điện trầm trọng của TP.HCM; tiếp theo là khảo sát địa chất vùng đồng bằng Nam bộ.
|
| GS.TS Trần Kim Thạch (1937-2009) là một trong những nhà địa chất học hàng đầu của Việt Nam. Ảnh: Tư liệu. |
Một hôm, Bí thư Thành uỷ Võ Văn Kiệt gọi tôi đến trao đổi một băn khoăn: “Chú đã nói Văn phòng Thành ủy cấp cho giáo sư Trần Kim Thạch một chiếc xe hơi và 20 lít xăng mỗi tháng, để tiện đi lại làm việc. Nhưng không hiểu sao anh Thạch từ chối? Vậy Nuôi tìm gặp anh Thạch hỏi, rồi báo lại chú biết!”.
Tôi mời GS Thạch đi cà phê và hỏi dò chuyện xe ôtô. Ông Thạch cười hiền: “Do thấy anh Thạch đi làm bằng chiếc xe Mobylette cà tàng, nên ông Sáu Dân có nhã ý tặng anh chiếc xe hơi. Nhưng anh thấy hiện giờ tình hình kinh tế, đời sống khó khăn, giới trí thức bạn bè anh ai cũng đi làm bằng honda, xe đạp. Làm sao anh có thể ngồi một mình trên chiếc ôtô! Anh nhờ em Nuôi chuyển lời cảm ơn chân thành đến ông Sáu Dân”.
Trong mắt tôi, GS Trần Kim Thạch đúng là một bậc trí thức chân chính có kiến thức uyên bác, có phong cách dấn thân phục vụ đất nước và có phẩm chất, nhân cách trong sạch, rất đáng ngưỡng mộ.
- Nếu có một điều muốn gửi gắm đến thế hệ trẻ hôm nay thông qua "Có một Sài Gòn tử tế, từ tâm", ông mong các bạn sẽ nhớ nhất điều gì về thành phố này?
- Tôi muốn gửi gắm đến thế hệ trẻ đã, đang và sẽ sinh sống, làm việc tại Sài Gòn - TP.HCM vài câu thơ trong bài Sài Gòn hoa lệ, tôi yêu (đăng trang đầu quyển sách Có một Sài Gòn tử tế, từ tâm):
“Người Việt ở đâu cũng nhớ về Sài Gòn hoa lệ / Hơn 300 năm, hoa và lệ vẫn đan xen / Đất lành dung thân biết bao thế hệ / Hòn ngọc phương Nam lan toả nhân duyên.
Sài Gòn đã cho em, cho tôi … cuộc sống / Chia sẻ phúc phần và những mối lương duyên. / Khi cánh buồm Sài Gòn lâm cơn biển động / Chung sức triệu tay chèo, thuyền cập bến bình yên.
Tôi yêu những vòm cửa hình vòng cung cổ kính / Yêu những bức tường gạch nung thiên cổ chẳng phai màu / Yêu những hàng cổ thụ mùa thu lá bay trầm tĩnh / Yêu người Sài Gòn sống tử tế, từ tâm”.
|
| Ông Lê Văn Nuôi (ngoài cùng, bên phải) cùng nhóm đại biểu Quốc hội khoá VI họp mặt trước Hội trường Ba Đình vào ngày 2/7/1976. Ảnh: NSND Trà Giang cung cấp. |
- Ngày 2/7/1976, khi Sài Gòn chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, không khí của thành phố lúc ấy như thế nào? Người dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên, đón nhận sự kiện đó ra sao?
- Thời điểm Quốc Hội khoá VI quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh kể từ ngày 2/7/1976, tôi đang là Đại biểu Quốc hội và đang dự họp Quốc hội tại hội trường Ba Đình (Hà Nội).
Một trong những quyết định lớn nhất của kỳ Quốc hội năm ấy là chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh
Khi bàn đến việc đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh, lập tức tất cả đại biểu đều đồng thuận. Ai cũng biết chuyện cán bộ chiến sĩ miền Nam đã nêu nguyện vọng này, tình cảm này từ 30 năm trước - năm 1946 - và vậy là kể từ ngày 2/7/1976, Sài Gòn chính thức mang tên mới: Thành phố Hồ Chí Minh.
Riêng tôi còn có một trải nghiệm khác: Lần đầu tiên tôi nghe gọi tên thành phố Hồ Chí Minh là vào khoảng 1h sáng ngày 1/5/1975 tại nhà tù Côn Đảo. Lúc đó, tôi đang bị giam trong một “chuồng cọp” - thuộc trại biệt giam số 7 - chung với 4 tù nhân chính trị khác. Đang ngủ chập chờn, chúng tôi choàng dậy vì nghe tiếng hô la của nhiều người từ khu trại giam khác văng vẳng theo gió biển:
“Hoan hô thành phố Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn toàn giải phóng! Hoan hô! Hoan hô!”.
Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức - Znews
Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức - Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@znews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.
Trân trọng.