Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Tri thức trực tuyến nếu mạng chậm. Đóng

Mạng xã hội khiến iGen cô đơn hơn thế hệ trước

Mạng xã hội giúp iGen kết nối với bạn bè nhưng cũng khiến họ liên tục chứng kiến những cuộc vui mình không được tham gia, làm cảm giác cô đơn gia tăng.

Mạng xã hội giúp iGen kết nối liên tục, nhưng cũng khiến họ dễ cảm thấy bị bỏ rơi và cô đơn. Ảnh minh họa: cottonbro studio/Pexels.

Một ngày nọ, Grace Nazarian, 13 tuổi, mở Instagram và thấy ảnh những người bạn thân của mình tại một buổi tiệc sinh nhật - mà cô bé không được mời đến. Grace nói với chương trình truyền hình Today: “Em thấy như mình là người duy nhất không được mời... Em nghĩ, họ đang vui vẻ mà không cần mình. Sau đó, em cảm thấy thật sự, thật sự buồn về bản thân.” Giờ đây, trải nghiệm của Grace rất phổ biến: trong khi trước đây, thanh thiếu niên nghe về các sự kiện xã hội qua rỉ tai và đồn đoán ở trường, thì giờ đây họ có thể thấy những bức ảnh sát đến từng phút về những gì họ đang bị bỏ lỡ. iGen có một thuật ngữ cụ thể cho điều này: Nỗi sợ bị bỏ lỡ (Fear of Missing Out - FOMO). Theo nhiều cách, nó như một công thức tạo ra nỗi cô đơn.

Dĩ nhiên, nền tảng trực tuyến cũng có thể mang tới tác động ngược lại, giúp thanh thiếu niên cảm thấy được kết nối với bạn bè ngay cả khi xa cách. Họ giữ liên lạc sát sao với bạn bè qua tin nhắn và internet, trao đổi hình ảnh Snapchat hài hước và liên tục cập nhật cho mọi người về những gì mình đang làm. Nhưng điều đó không xoa dịu được nỗi cô đơn của họ, thực tế, họ còn thấy cô đơn hơn so với thế hệ thanh thiếu niên của chỉ năm năm trước. Thật đáng ngạc nhiên là tỷ lệ học sinh lớp 8 và lớp 10 cảm thấy cô đơn năm 2015 nhiều hơn 31% so với năm 2011, đồng thời, năm 2015 tỷ lệ này ở học sinh lớp 12 nhiều hơn 22% so với năm 2011. Đó là một sự thay đổi chóng mặt chỉ trong bốn năm. Thanh thiếu niên ngày nay cô đơn hơn bất cứ thời điểm nào trước đây kể từ khi cuộc khảo sát bắt đầu vào năm 1991.

Như có thể dự đoán được trong thời đại FOMO, thanh thiếu niên dễ nói rằng họ thường cảm thấy bị hắt hủi hơn. Trong cả ba nhóm tuổi, cảm giác bị hắt hủi đều đạt mức cao kỷ lục. Tương tự sự gia tăng của cảm giác cô đơn, sự tăng vọt của cảm giác bị hắt hủi diễn ra rất nhanh và mạnh mẽ, với ngày càng nhiều thanh thiếu niên phải trải nghiệm cảm giác bị loại trừ.

Những thay đổi lớn trong khoảng thời gian ngắn như vậy là rất bất thường, chỉ ra một nguyên nhân cụ thể có tác động lớn. Xét về thời điểm, điện thoại thông minh có khả năng là thủ phạm nhất, theo cách trực tiếp lẫn gián tiếp, nó làm tăng cảm giác cô đơn bằng cách thay thế sự tương tác xã hội trực tiếp. Khi thanh thiếu niên dành ít thời gian hơn cho những hoạt động giúp xoa dịu cảm giác cô đơn, và nhiều thời gian hơn cho những hoạt động không mang lại tác dụng đó, thì mức độ cô đơn gia tăng là điều không đáng ngạc nhiên. Cơ chế có khả năng diễn ra như được minh họa trong Hình 4.4.

iGen ảnh 1

Hình 4.4 Mô hình khả dĩ về nguyên nhân iGen cảm thấy cô đơn. Ảnh: iGen - Thế hệ Smartphone.

Sự sụt giảm tương tác xã hội trực tiếp như một sát thủ được thuê bởi ai đó: hắn thực hiện tội ác dù cho đó không phải ý tưởng của hắn. Thời gian sử dụng màn hình vừa là người thuê sát thủ ấy, vừa tiện tay tự nổ thêm vài phát súng nữa.

Tuy nhiên, cần lưu ý một điểm quan trọng: đây không phải là mô hình giải thích mối quan hệ giữa thời gian sử dụng màn hình và thời gian giao tiếp trực tiếp ở cấp độ cá nhân. Bởi trên thực tế, những thanh thiếu niên dành nhiều thời gian cho mạng xã hội cũng thường là những người dành nhiều thời gian gặp gỡ bạn bè ngoài đời hơn. Những người có đời sống xã hội phong phú thường hoạt động tích cực ở cả hai môi trường, còn những người ít giao tiếp thì thường ít hoạt động ở cả hai. Thay vào đó, đây là một giả thuyết nhằm giải thích mối quan hệ giữa các biến số này ở cấp độ thế hệ. Nói cách khác, khi xét toàn bộ thanh thiếu niên như một nhóm, nếu họ dành nhiều thời gian hơn cho màn hình và ít thời gian hơn cho các tương tác trực tiếp mặt đối mặt, thì mức độ cô đơn trung bình của cả thế hệ sẽ gia tăng.

Cũng có thể lập luận rằng cảm giác cô đơn khiến người ta sử dụng điện thoại thông minh nhiều hơn, thay vì điện thoại thông minh gây ra cảm giác cô đơn. Tuy nhiên, sự gia tăng đột ngột của tình trạng cô đơn khiến cách giải thích này trở nên kém thuyết phục hơn nhiều. Nếu cô đơn là nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng điện thoại thông minh, thì điều đó đồng nghĩa với việc phải có một sự gia tăng đột ngột về mức độ cô đơn không rõ nguyên nhân, và chính sự gia tăng đó đã khiến điện thoại thông minh bất ngờ trở nên phổ biến. Kịch bản này có vẻ ít hợp lý hơn nhiều so với giả thuyết điện thoại thông minh trở nên phổ biến trước, thời gian sử dụng màn hình tăng lên sau đó, và kết quả là cảm giác cô đơn ở thanh thiếu niên cũng gia tăng. Hơn nữa, như chúng ta đã thấy ở chương trước, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng mạng xã hội dẫn đến các cảm xúc tiêu cực, chứ không phải những cảm xúc tiêu cực khiến người ta sử dụng mạng xã hội nhiều hơn.

Mặc dù xu hướng cảm thấy bị hắt hủi xuất hiện ở cả nam và nữ, nhưng sự gia tăng lại đặc biệt mạnh ở nữ (xem Phụ lục F). Số nữ sinh cảm thấy bị hắt hủi năm 2015 nhiều hơn 48% so với năm 2010, đối chiếu với con số 27% ở nam sinh. Nữ sinh sử dụng mạng xã hội thường xuyên hơn, khiến họ có nhiều nguy cơ hơn trong việc cảm thấy bị bỏ rơi và cô đơn khi thấy bạn bè hoặc bạn học tụ tập mà không rủ mình. Mạng xã hội cũng là phương tiện hoàn hảo cho kiểu công kích bằng lời vốn được nữ giới ưa dùng hơn. Ngay cả trước khi có Internet, nam sinh có khuynh hướng bắt nạt bằng vũ lực còn nữ sinh bằng lời nói. Mạng xã hội mang đến cho các nữ sinh cấp hai và cấp ba một nền tảng 24/7 để thực hiện việc gây hấn bằng lời, tẩy chay và loại trừ các bạn nữ khác. Nữ sinh dễ trải nghiệm hình thức bắt nạt qua phương tiện điện tử (còn gọi là bắt nạt trực tuyến) cao gấp đôi so với nam sinh; trong khảo sát dành cho nam sinh cấp ba của trường YRBSS, 22% nữ sinh nói rằng mình từng bị bắt nạt trực tuyến trong năm qua, trong khi tỷ lệ này ở nam sinh là 10%. Các nữ thanh thiếu niên iGen đang sống đời sống xã hội trên mạng và, hệ quả là họ càng ngày càng thấy mình bị gạt ra ngoài.

'Giải oan' cho Gen Z

Tác giả của cuốn sách "Gen Z, Explained: The Art of Living in a Digital Age" (tạm dịch: Giải mã Gen Z: Nghệ thuật sống trong kỷ nguyên số) tin rằng đây là thế hệ lạc quan, có suy nghĩ nghiêm túc dù là người đang đi học, đi làm hay đã có gia đình. Nhóm tác giả cũng bác bỏ tuyên bố rằng thế hệ Z đang trưởng thành quá chậm hoặc thiếu kỹ năng tư duy phản biện. Họ nhận thấy thế hệ này đang phải chịu quá nhiều phán xét tiêu cực.

SÁCH HAY

Đại hội Hội Xuất bản Việt Nam lần thứ V

Đại hội Hội Xuất bản Việt Nam lần thứ V

0

Việc chuyển đổi mô hình hoạt động có thể giúp đơn vị xuất bản chủ động sản xuất từ sách giấy, ebook cho đến sách nói để tạo sự sôi nổi và đa dạng cho thị trường.

BOOK SPACE

BOOK SPACE

0

Mỗi dịp cuối tuần, khoảng sân trước cửa Thư viện Dương Liễu lại xếp kín những chiếc xe đạp mini đầy màu sắc. Chủ nhân của những chiếc xe này là hàng chục độc giả nhí.

Nghề viết văn

Nghề viết văn

0

Nhiều nhà văn có con đường học vấn khá sâu rộng, ngược lại một số người chủ yếu tự học và viết bằng trải nghiệm. Các nhà văn sẽ tự học bằng việc đọc, nó giúp họ tích lũy tri thức.

Sống một đời xứng đáng

Sống một đời xứng đáng

0

Chừng nào mẹ còn năng lượng, thì chừng đó mẹ còn có quyền quyết định tiếp tục dùng nó để mang lại niềm vui cho chính mình và những người xung quanh. Thấy hai cha con tôi cười phá lên, với mẹ, thế là xứng đáng.

Vũ trụ tuần hoàn

Vũ trụ tuần hoàn

0

Sau khoảng một nghìn tỷ năm hoặc hơn, một vụ nổ lớn mới xảy ra và một chu kỳ mới bắt đầu.

Giải mã hoóc-môn dopamine

Giải mã hoóc-môn dopamine

0

Nhân vô thập toàn, con người ai cũng có khuyết điểm. Có điều cách bạn đối diện với nó ảnh hưởng rất nhiều từ thái độ sống mà chúng ta được cha mẹ hình thành tự nhỏ.

6 vật liệu định hình văn minh nhân loại

6 vật liệu định hình văn minh nhân loại

0

Nó nhẹ đến mức nổi trên dầu, mềm đến mức có thể cắt bằng dao nhà bếp, nhưng lại phản ứng mạnh đến mức sôi sục và phát nổ khi tiếp xúc với nước và không khí.

Điểm kỳ dị đã cận kề

Điểm kỳ dị đã cận kề

0

Ray Kurzweil dự đoán đầu những năm 2040, các nano robot sẽ có thể đi vào não bộ của người còn sống và sao chép toàn bộ dữ liệu tạo nên ký ức và tính cách của người gốc.