Thoạt nhìn thì dường như ta nên thận trọng nhường việc xem xét sự kiện cho khoa học thực chứng. Vật lý và hóa học làm việc với vật chất thô, khoa sinh học và tâm lý nghiên cứu những biểu hiện của sự sống. Nhiệm vụ của triết gia do đó đã được khoanh vùng rõ nét. Ông này nhận lại từ tay nhà khoa học những sự kiện và các quy luật, và hoặc ông tìm cách vượt qua chúng để từ đó chạm tới những nguyên nhân sâu xa, hoặc ông nghĩ rằng không thể đi xa hơn và phải chứng minh bằng cách phân tích chính tri thức khoa học, nhưng trong cả hai trường hợp thì ông đều tôn trọng sự kiện và quan hệ như cách các nhà khoa học đã trao cho ông, với lòng tôn trọng mà người ta có trước một vật bị phán xét.
Với tri thức này ông sẽ phủ lên một phê phán về quan năng nhận thức và ở đấy, cũng phủ lên nó một siêu hình học: còn bản thân nhận thức trong tính chất liệu của nó, thì ông xem đó là sự vụ của khoa học chứ không phải của ông.
Nhưng làm sao không thấy sự phân chia lao động được giả định như thế rút cục là làm rối loạn và lẫn lộn hết thảy? Siêu hình học hay sự phê phán mà triết học tự nhận cho mình, sẽ nhận hai thứ ấy như sẵn có từ khoa học thực chứng, đã được chứa sẵn trong những mô tả và những phân tích mà nó đã nhượng toàn bộ cho nhà bác học.
|
| Khoa học thực chứng rất thành công khi nghiên cứu vật chất, nhưng cách tư duy ấy có thể bộc lộ giới hạn trước sự sống. Ảnh: iStock. |
Ngay từ đầu, vì không muốn phải can thiệp vào những vấn-đề-về-sự, nên với các vấn-đề-về-nguyên-lý, nó thấy mình bị quy về việc phải đơn thuần phát biểu cả siêu hình học lẫn sự phê phán vô thức, và do đó là không kiên định, theo những thuật ngữ chính xác hơn là những gì thể hiện trong chính thái độ của khoa học đối với thực tại. Ta đừng để mình bị lừa bởi bề ngoài tương tự giữa những thứ tự nhiên và những gì thuộc về con người.
Ta không ở trong lĩnh vực pháp lý, nơi mà mô tả sự kiện và phán xét sự kiện là hai việc phân biệt, với lý do đơn giản rằng ở trên sự kiện, độc lập với nó, có một quy luật được một nhà lập pháp ban bố. Nơi đây quy luật nằm trong sự kiện và phụ thuộc vào các tuyến mà ta đã lần theo để cắt cái thực thành các sự kiện phân biệt. Ta không thể mô tả khía cạnh của đối tượng mà đã không có thiên kiến về bản tính thân mật của nó và tổ chức của nó.
Hình thức không còn có thể hoàn toàn tách biệt với chất liệu, và kẻ nào đã khởi đầu bằng cách để dành cho triết học các vấn-đề-về-nguyên-lý, và qua đó đã muốn đặt triết học cao hơn những khoa học khác, như một Tòa Tư Pháp Tối Cao bên trên những tòa đại hình và tòa phúc thẩm, sẽ dần đi đến việc biến mình chỉ còn là một phiên tòa ký sự, có nhiệm vụ nhiều nhất là thảo ra theo những thuật ngữ chính xác hơn những bản án được đệ trình, đã được phán quyết xong rồi mà thôi.
Khoa học thực chứng đúng là tạo phẩm của trí năng thuần túy. Ấy vậy, dù người ta có chấp nhận hay bác bỏ quan niệm này của chúng tôi, thì có một điểm mà ai cũng đều đồng ý, đó là trí năng cảm thấy thoải mái nhất trước vật chất vô cơ. Theo cách này mà nó ngày càng sử dụng tốt hơn vật chất bằng các phát minh cơ học, các phát minh cơ học thì sẽ trở nên dễ hơn với nó khi trí năng tư duy vật chất càng cơ học hơn. Nó mang trong mình, dưới hình thức lô-gíc tự nhiên, một thuyết hình học tiềm ẩn sẽ chỉ dần lộ ra khi nó thâm nhập sâu hơn vào chốn thân mật của vật chất trơ. Nó được thích nghi với vật chất, cho nên vật lý và siêu hình học về vật chất thô mới gần nhau đến vậy.
Bây giờ, khi trí năng tiếp cận nghiên cứu về sự sống, thì nó nhất định cũng đối xử với vật sống như vật trơ, áp dụng vào đối tượng mới cùng một hình thức, mang vào lĩnh vực mới cùng một thói quen đã giúp nó thành công trong lĩnh vực cũ. Và nó có lý khi làm thế, vì chỉ với điều kiện này mà sinh vật mới ban cho hành động của ta cùng một chỗ bám như với vật chất trơ mà thôi. Nhưng chân lý mà ta đạt đến theo cách này thì sẽ trở nên hoàn toàn tương đối với quan năng hành động của ta.
Đó chỉ còn là một chân lý biểu trưng. Nó không thể có cùng một giá trị như chân lý vật lý, vì chỉ là một sự mở rộng của vật lý lên đối tượng mà ta quy ước a priori sẽ chỉ xem xét khía cạnh bên ngoài.
Nghĩa vụ của triết học do đó sẽ là can thiệp chủ động vào đây, khảo sát sinh vật mà không có ý định thực dụng nào, bằng cách thoát ra khỏi các hình thức và thói quen thuần trí năng. Mục đích của nó là tư biện, nghĩa là nhìn ngắm; thái độ của nó đối với sinh vật không thể là thái độ của khoa học, tức chỉ nhắm vào hành động, và vì chỉ có thể tác động qua trung gian của vật chất trơ, đã xem xét mọi thực tại còn lại dưới khía cạnh duy nhất ấy.
Vậy thì điều gì sẽ xảy ra nếu nó bỏ lại cho một mình khoa học thực chứng những sự kiện sinh học và những sự kiện tâm lý, như nó đã hoàn toàn hợp nhẽ mà nhường lại cho thứ này những sự kiện vật lý? A priori, nó sẽ chấp nhận một quan niệm cơ giới luận về toàn bộ tự nhiên, quan niệm đường đột và thậm chí là vô thức, đến từ nhu cầu vật chất. A priori, nó sẽ chấp nhận học thuyết về tính thống nhất đơn giản của tri thức, và về tính thống nhất trừu tượng của tự nhiên.