Thương nhân và độc quyền (3000 TCN-1500)
Trước khi công ty hiện đại trưởng thành vào giữa thế kỷ 19, nó đã có một thời kỳ non trẻ kéo dài đến khó tin và thường cực kỳ vô trách nhiệm. Những thương nhân và kẻ cướp bóc, những nhà đế quốc chủ nghĩa và những tay đầu cơ, vốn thống trị đời sống kinh doanh suốt bao thế kỷ, có thể chưa hình thành nên các công ty hoàn chỉnh như ta biết ngày nay, nhưng họ vẫn tạo ra những tổ chức quyền lực đã thay đổi sâu sắc đời sống thương mại.
Ngay từ năm 3000 TCN, Lưỡng Hà đã có những thỏa thuận kinh doanh vượt ra ngoài hình thức trao đổi hàng hóa đơn giản. Các gia tộc Sumer buôn bán dọc theo sông Euphrates và Tigris đã hình thành những khế ước nhằm hợp lý hóa quyền tư hữu. Đền thờ vừa đóng vai trò ngân hàng vừa là cơ quan giám sát nhà nước. Người Assyria (2000-1800 TCN), một nhóm người thường gây sự liên tưởng đến tình trạng man rợ mà Kinh Thánh mô tả, còn tiến xa hơn thế.
|
| Tranh minh họa các thương nhân làm việc với hoàng gia. Ảnh: The Guardian. |
Một tài liệu cho thấy có một nhà cai trị Assyria chính thức chia sẻ quyền lực với các trưởng lão, các thị trấn, và các thương nhân (hay karum, tên gọi theo từ chỉ bến cảng, hoặc kè đá ven biển, nơi họ ngồi). Thậm chí còn có cả một thoả thuận hợp danh.
Theo các điều khoản của một hợp đồng như vậy, khoảng 14 nhà đầu tư đã góp 26 miếng vàng vào một quỹ do một thương nhân tên Amur Ishtar điều hành, bản thân ông ta cũng thêm bốn miếng vào đó. Quỹ này dự kiến kéo dài bốn năm, và thương nhân sẽ thu một phần ba lợi nhuận - những điều khoản không khác biệt mấy so với một quỹ đầu tư mạo hiểm hiện đại.
Người Phoenica và sau này là người Athens đã đưa loại hình tư bản chủ nghĩa này đi ra biển cùng họ, truyền bá các hình thức tổ chức tương tự xung quanh Địa Trung Hải. Chi phí và thời gian gắn liền với thương mại hàng hải khiến cho một loại thỏa thuận chính thức nào đó trở nên cần thiết hơn hình thức tương đương của nó trên đất liền.
Với cả nhà đầu tư cũng như chủ nợ, luôn hiện hữu mối rủi ro rằng một thuyền trưởng có thể ngày nào đó biến đi mất. (Homer, người đầu tiên trong một chuỗi dài những người kể chuyện vĩ đại, luôn ngờ vực các nhà buôn bất kể thuộc loại nào, từng lên án các thương nhân từ Tyre là bọn người hai mặt.)
Mô hình Athens nổi bật vì nó dựa trên pháp quyền hơn là sự tùy hứng của các vị vua, và vì nó cởi mở với người ngoài một cách lạ thường. Một chủ ngân hàng và chủ tàu tên là Pasion, qua đời năm 370 TCN như một trong những người giàu nhất thành phố, là một tên nô lệ man di khi thoạt tiên đặt chân đến đây. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Athens bấy giờ vẫn còn ở quy mô khiêm tốn, thường chỉ tập hợp không quá một nhúm người; ngay cả những xưởng làm khiên, những doanh nghiệp lớn nhất được biết đến lúc bấy giờ, cũng hiếm khi sử dụng hơn một trăm nô lệ.
Các societates (hội thương mại hoặc công ty hợp danh) của Rome, đặc biệt là những hội được tổ chức bởi các publicanus (chủ thầu thuế) chuyên thu thuế khoán, thì có tham vọng hơn đôi chút. Ban đầu, việc thu thuế được giao phó cho các hiệp sĩ La Mã cá nhân; nhưng khi Đế chế phát triển, các khoản thuế trở nên nhiều quá sức một nhà quý tộc có thể đảm đương, và vào thời chiến tranh Punic lần thứ hai (218-202 TCN), họ bèn bắt đầu thành lập các công ty - societas - trong đó mỗi đối tác có một cổ phần.
Những công ty này cũng tìm thấy vai trò là cánh tay thương mại của cuộc chinh phạt, sản xuất khiên và kiếm cho những quân đoàn. Ở vị thế xã hội thấp hơn, thợ thủ công và thương nhân họp nhau thành lập các phường hội (collegia hoặc corpora) mà họ bầu ra những nhà quản lý và phải có môn bài nếu muốn hoạt động.
William Blackstone, nhà luật học vĩ đại thế kỷ 18, tuyên bố rằng vinh dự phát minh ra các công ty “hoàn toàn thuộc về người La Mã”. Họ chắc chắn đã tạo ra một số khái niệm cơ bản về luật công ty, nhất là ý tưởng rằng một hiệp hội gồm nhiều con người có thể có một bản sắc tập thể khác biệt với các thành phần con người tạo nên nó. Họ liên kết các công ty với familia, đơn vị cơ bản của xã hội.
Các đối tác hoặc socii giao hầu hết những quyết định quản lý cho một magister, người này lần lượt điều hành công việc kinh doanh, quản lý các đại lý tại thực địa và ghi chép tabulae accepti et expensi (bảng thu chi). Các công ty cũng có một số hình thức trách nhiệm hữu hạn nào đó. Mặt khác, các societas vẫn là những gì tương đối mỏng manh, “chỉ là các nhóm cá nhân”, như một nhà sử học nhận xét. Hầu hết các hợp đồng thu thuế chỉ là ngắn hạn. Và phần lớn tài sản vẫn tập trung vào nông nghiệp và các điền trang tư nhân.