giải trí
11,5 tỷ USD và những đường đi của tiền bản quyền âm nhạc Mỹ
Ở Mỹ, một bài hát có thể tạo ra nhiều dòng tiền cùng lúc, chạy qua nhiều hệ thống khác nhau trước khi tới nhạc sĩ, nhà xuất bản, nghệ sĩ biểu diễn hoặc chủ sở hữu bản ghi.
Minh Ánh

Theo Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Mỹ (RIAA), thị trường ghi âm Mỹ tạo ra 11,5 tỷ USD doanh thu ở cấp bán buôn (wholesale) vào năm 2025. Trong đó, streaming mang về gần 9,5 tỷ USD, tương đương 82% tổng doanh thu. Nhưng đó là doanh thu của thị trường ghi âm, không phải số tiền bản quyền được chia cho nhạc sĩ. Muốn theo dấu tiền từ một lượt nghe trên Spotify, phải đi xuống một tầng phức tạp hơn.
Luật bản quyền Mỹ tách một ca khúc thành hai tài sản cơ bản. Musical composition (tác phẩm âm nhạc) là phần sáng tác gồm giai điệu, hòa âm, tiết tấu và ca từ (nếu có), và quyền đối với tác phẩm có thể do nhạc sĩ sáng tác, người viết lời, nhà xuất bản âm nhạc hoặc các chủ thể khác nắm giữ. Trong khi sound recording (bản ghi âm), thường được gọi là master (bản ghi gốc), là bản thu cụ thể của tác phẩm ấy, thì quyền sở hữu có thể thuộc về nghệ sĩ, hãng đĩa hoặc chủ sở hữu master, tùy theo hợp đồng.
Một lượt stream có thể khai thác cả hai, nhưng tiền không nhất thiết đi cùng một đường. ASCAP và BMI quản lý quyền biểu diễn công cộng đối với các tác phẩm âm nhạc trong danh mục mà họ đại diện. Còn The Mechanical Licensing Collective (The MLC) xử lý một dòng khác: tiền bản quyền cơ học (mechanical royalties) của tác phẩm đối với các hoạt động kỹ thuật số thuộc giấy phép chung theo luật liên bang. SoundExchange lại xử lý tiền bản quyền cho một số hình thức biểu diễn/truyền phát kỹ thuật số đối với bản ghi âm theo cơ chế luật định.
ASCAP/BMI, The MLC và SoundExchange vì thế không phải là 3 tổ chức cùng đi thu một loại tiền.
Một bài hát, nhiều đường đi của tiền
ASCAP ra đời năm 1914, BMI xuất hiện năm 1939, nhưng cả hai đều là tổ chức quản lý quyền biểu diễn, tập hợp quyền biểu diễn công cộng đối với hàng triệu tác phẩm rồi cấp phép cho các đơn vị sử dụng âm nhạc.
“Biểu diễn công cộng” rộng hơn một buổi concert. Radio phát một bài hát, nhà hàng mở nhạc cho khách, đài truyền hình sử dụng tác phẩm hay dịch vụ streaming truyền nhạc tới người nghe đều có thể liên quan đến quyền này. Thay vì từng nhà hàng phải tìm từng nhạc sĩ để xin phép, PRO cấp giấy phép cho danh mục tác phẩm mà họ đại diện, rồi phân phối tiền cho nhạc sĩ sáng tác và nhà xuất bản.
Quy mô này hiện rất lớn. ASCAP báo cáo doanh thu năm 2024 đạt 1,835 tỷ USD, tăng 5,7% so với năm trước, trong đó, 1,696 tỷ USD được dành cho phân phối tiền bản quyền. Đây là doanh thu và khoản dành cho phân phối của ASCAP, không phải doanh thu của ngành âm nhạc Mỹ.
Billie Eilish có sức ảnh hưởng toàn cầu đặc biệt lớn và là top 5 nghệ sĩ Spotify toàn cầu năm 2025. Ảnh: Reuters.
Việc tập hợp lượng lớn quyền vào một số tổ chức cũng tạo ra vấn đề cạnh tranh. ASCAP và BMI chịu sự điều chỉnh của các phán quyết đồng thuận chống độc quyền từ năm 1941. Bộ Tư pháp Mỹ áp dụng khuôn khổ này nhằm hạn chế sức mạnh thị trường có thể phát sinh từ việc cấp phép tập thể. Nếu người sử dụng và tổ chức quản lý không thống nhất được mức giá trong những trường hợp thuộc phạm vi các phán quyết này, tranh chấp có thể được đưa ra tòa án liên bang theo cơ chế thường được gọi là rate court (tòa án xác định mức phí).
Quyền biểu diễn công cộng mới chỉ là một phần trong số tiền mà tác phẩm có thể tạo ra.
Khi Spotify hoặc một dịch vụ streaming tương tác khai thác một tác phẩm âm nhạc tại Mỹ, một dòng quyền khác sẽ xuất hiện: quyền sao chép và phân phối cơ học. Streaming khiến việc xác định và cấp phép cho lượng tác phẩm khổng lồ trở nên khó xử lý theo cách cũ. Quốc hội Mỹ phản ứng bằng Music Modernization Act (Đạo luật Hiện đại hóa Âm nhạc) năm 2018.
Luật thiết lập giấy phép cơ học bao trùm một số hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ âm nhạc kỹ thuật số, trong đó có streaming tương tác. The MLC được U.S. Copyright Office (Cơ quan Bản quyền Mỹ) chỉ định để vận hành hệ thống, và giấy phép mới có hiệu lực từ ngày 1/1/2021.
Các dịch vụ số gửi báo cáo sử dụng và tiền bản quyền cơ học thuộc giấy phép này tới The MLC. Tổ chức phải ghép bản ghi được sử dụng với tác phẩm âm nhạc tương ứng, xác định ai sở hữu tác phẩm và tỷ lệ quyền, rồi phân phối tiền cho những chủ sở hữu đủ điều kiện.
Đây là lúc metadata trở thành một phần của hạ tầng thanh toán. Nếu một bản ghi được stream hàng triệu lần nhưng dữ liệu không xác định được tác phẩm phía sau hoặc chủ sở hữu của nó, thì tiền chưa thể được chuyển đúng. Unmatched royalties (tiền bản quyền chưa ghép được với tác phẩm) phát sinh khi dữ liệu sử dụng chưa được ghép với tác phẩm đã đăng ký; unclaimed royalties (tiền bản quyền chưa có người nhận) có thể xuất hiện khi tác phẩm đã được xác định nhưng một phần quyền sở hữu chưa được đăng ký hoặc nhận.
Trong 12 kỳ phân phối năm 2025, The MLC xử lý 943,1 triệu USD tiền bản quyền, trực tiếp phân phối 742,3 triệu USD và xử lý thêm 33,2 triệu USD liên quan đến các lượt sử dụng thuộc giấy phép tự nguyện của các nền tảng; The MLC tính tổng tiền bản quyền được phân phối trong năm ở mức 775,5 triệu USD.
Công việc đối sánh vẫn tiếp diễn sau khi một kỳ thanh toán kết thúc. Trong kỳ phân phối tháng 3/2026, chủ yếu phản ánh lượt sử dụng tháng 12/2025, The MLC còn giữ 13,2 triệu USD liên quan đến lượt sử dụng chưa ghép được với tác phẩm đã đăng ký và 5,4 triệu USD cho những phần quyền đã được ghép với tác phẩm nhưng chưa có người đăng ký hoặc nhận.
Ngày 3/6 vừa qua, Cơ quan Bản quyền Mỹ quyết định tiếp tục chỉ định The MLC làm tổ chức quản lý giấy phép cơ học theo luật định sau kỳ đánh giá đầu tiên. Đến thời điểm đó, The MLC cho biết cơ sở dữ liệu công khai chứa thông tin của hơn 54 triệu bài hát và tổng tiền bản quyền đã phân phối kể từ năm 2021 đã tiến sát 4 tỷ USD.
Nhưng The MLC vẫn chỉ xử lý một phần dòng tiền.
SoundExchange quản lý giấy phép theo luật định đối với một số hình thức truyền phát kỹ thuật số bản ghi âm. Những dịch vụ thuộc phạm vi luật định như radio vệ tinh và một số dịch vụ non-interactive (không tương tác, tức người nghe không chủ động chọn chính xác bài muốn phát) trả tiền bản quyền cho SoundExchange, sau đó tiền được phân phối cho chủ sở hữu bản ghi và nghệ sĩ biểu diễn.
Theo cơ chế luật định, 50% khoản tiền thuộc về chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, 45% được trả trực tiếp cho nghệ sĩ biểu diễn chính và 5% dành cho nghệ sĩ biểu diễn không phải nghệ sĩ chính, như nhạc công và ca sĩ hát bè đủ điều kiện).
Spotify là dịch vụ streaming tương tác, nơi người dùng có thể chủ động chọn bài muốn nghe, nên quyền đối với master không đi theo con đường luật định mà do SoundExchange quản lý. Các quyền đối với bản ghi trên loại dịch vụ này thường được cấp phép thông qua thỏa thuận trực tiếp với hãng đĩa, nhà phân phối hoặc chủ sở hữu quyền.
Năm 2025, SoundExchange thu 1,052 tỷ USD tiền bản quyền và ghi nhận 992 triệu USD tổng tiền phân phối trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Không thể cộng số này với tiền của ASCAP hay The MLC để tạo thành một con số “tổng tiền bản quyền âm nhạc Mỹ”: các tổ chức đang xử lý những quyền khác nhau và dùng các chỉ tiêu kế toán khác nhau.
Hệ thống lớn nhưng vẫn còn tranh chấp
Cấu trúc của Mỹ giải quyết một bài toán kinh tế cơ bản. Một nhà hàng không thể thương lượng với hàng nghìn nhạc sĩ trước khi bật nhạc; Spotify cũng khó vận hành nếu phải lần tìm từng chủ sở hữu cho hàng triệu tác phẩm trước mỗi lượt stream. Cấp phép tập thể và giấy phép bao trùm giúp giảm chi phí giao dịch ở quy mô mà thị trường âm nhạc hiện đại đòi hỏi.
Nhưng quy mô lại tạo ra những vấn đề mới.
The MLC cho thấy rõ bài toán dữ liệu. Một cơ sở dữ liệu có hàng chục triệu bài hát vẫn cần liên tục ghép bản ghi âm với tác phẩm âm nhạc, xác định tỷ lệ sở hữu và xử lý các khoản tiền chưa tìm được đúng người nhận. Tỷ lệ đối sánh tăng sau khi dữ liệu cũ được xử lý lại cho thấy tiền bản quyền không phải lúc nào cũng đi từ một lượt stream đến chủ sở hữu ngay trong kỳ đầu tiên.
Olivia Rodrigo trong nhóm thế hệ nghệ sĩ trẻ nhưng đã có ảnh hưởng toàn cầu.
ASCAP và BMI đối mặt với một vấn đề khác. Giấy phép bao trùm làm việc mua quyền đơn giản hơn, nhưng việc tập hợp một danh mục tác phẩm lớn tạo ra sức mạnh thị trường đủ lớn để hai tổ chức phải chịu các phán quyết chống độc quyền suốt hơn tám thập niên. Những PRO khác như SESAC và Global Music Rights không chịu ảnh hưởng bởi chính 2 phán quyết này. Một thị trường có nhiều đầu mối cũng có thể khiến doanh nghiệp phải xác định mình cần giấy phép từ tổ chức nào để sử dụng đầy đủ danh mục âm nhạc mong muốn.
Mức tiền mà mỗi bên nhận được vẫn là nguồn tranh chấp. The MLC giúp xử lý việc cấp phép và phân phối tiền bản quyền cơ học kỹ thuật số; nó không quyết định mọi câu hỏi về việc nhạc sĩ sáng tác nên nhận bao nhiêu tiền từ streaming. Mức tiền bản quyền vẫn là đối tượng của các quy trình xác định mức phí tại Copyright Royalty Board (Hội đồng Tiền bản quyền Mỹ), cũng như các cuộc đàm phán và tranh tụng giữa các bên có lợi ích khác nhau.
Vì thế, Mỹ không cung cấp một mô hình đơn giản để sao chép. So với Hàn Quốc, nơi KOMCA tập trung một phần rất lớn vào hoạt động quản lý quyền tác giả âm nhạc, hệ thống Mỹ phân mảnh hơn giữa quyền biểu diễn đối với tác phẩm, quyền cơ học kỹ thuật số và quyền truyền phát kỹ thuật số theo luật định đối với bản ghi âm. Hai cấu trúc phản ánh những lịch sử pháp lý và thị trường khác nhau.
Điểm đáng chú ý ở Mỹ là mỗi dòng tiền phải được gắn với một quyền cụ thể. Khi một bài hát được phát trên radio, được nghe trên Spotify hay được phát qua radio vệ tinh, từ “bản quyền” vẫn chưa đủ để biết ai thu và ai được trả tiền. Phải xác định đó là tác phẩm hay bản ghi, loại quyền nào đang được khai thác và cơ chế cấp phép nào được áp dụng.
Thị trường Mỹ đã xây dựng nhiều con đường cho những khoản tiền ấy. Chúng vẫn có chỗ tắc, vẫn có tiền chưa tìm được người nhận và vẫn có tranh chấp về mức giá. Nhưng ở quy mô hàng tỷ lượt sử dụng, khả năng nhận diện đúng tác phẩm, đúng quyền và đúng chủ sở hữu đã trở thành một phần của hạ tầng kinh tế âm nhạc.
Bài viết có sử dụng số liệu và tài liệu từ Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Mỹ (RIAA), Cơ quan Bản quyền Mỹ (U.S. Copyright Office), Bộ Tư pháp Mỹ (DOJ), ASCAP, The Mechanical Licensing Collective (The MLC) và SoundExchange.
Cuốn sách Lược sử âm nhạc của nhà nghiên cứu âm nhạc bậc thầy thế giới Robert Philip, dẫn dắt độc giả trên hành trình khám phá cực kỳ lôi cuốn mọi hình thái âm nhạc. 40 chương sách đưa người đọc đi từ dạng thức sơ khai của âm nhạc đến khi con người sử dụng âm nhạc, qua giai đoạn sự lên ngôi của các nhạc cụ, dàn nhạc, đến khi âm nhạc tạo ra những cơn bão trong tâm trí con người thời cách mạng, cuối cùng là âm nhạc trong nhịp sống hiện đại và âm nhạc hướng về tương lai.
Cuốn sách làm nổi bật rằng, âm nhạc không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một hiện tượng xã hội phức tạp. Nó phản ánh cấu trúc xã hội, các mối quan hệ quyền lực và những thay đổi trong xã hội. Âm nhạc phát triển theo nhiều chiều hướng khác nhau trong các nền văn hóa.
Bình luận